Chương 1: Giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu. Chương này trình bày tóm lược về công trình nghiên cứu, gồm: tính cấp thiết của đề tài, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu. Trong chương này, tác giả đưa ra một số khái niệm, cơ sở lý luận trong việc nghiên cứu về chất lượng thu nhập và quản trị thu nhập, các phương thức thực hiện quản trị thu nhập và các mô hình phát hiện quản trị thu nhập.
Sau đó, tác giả tác giả 5 đưa ra những bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam về tác động của chất lượng thu nhập đến tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này tác giả trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu định lượng trong bài luận văn. Cụ thể, tác giả sẽ xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng và trình bày phương pháp hồi quy sẽ sử dụng trong luận văn.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đối với trường hợp mẫu dữ liệu các công ty niêm yết ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra các kết luận về việc chấp nhận hay bác bỏ những giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra trước đó, đồng thời tác giả cũng đưa ra các nhận định về tác động của chất lượng thu nhập đối với tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Chương 5: Kết luận và các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Chương này sẽ tóm tắt về việc thực hiện nghiên cứu trong luận văn, kết luận tổng quát về các kết quả nghiên cứu đã đạt được. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày những điểm giới hạn trong nghiên cứu của luận văn và đưa ra các hướng nghiên cứu mở rộng của luận văn trong các nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày một số khái niệm, cơ sở lý luận về chất lượng thu nhập và quản trị thu nhập, các phương thức thực hiện quản trị thu nhập và các mô hình phát hiện quản trị thu nhập. Bên cạnh đó, chương này sẽ sơ lược qua một số nghiên cứu trước đây để làm rõ mối quan hệ giữa chất lượng thu nhập và tỷ suất sinh lợi.
Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có được là cơ sở để tác giả lựa chọn và xây dựng các nhân tố tác động mà tác giả sử dụng trong bài luận văn. Cơ sở lý luận về chất lượng thu nhập và quản trị thu nhập Lợi nhuận là khoản mục được các nhà phân tích chứng khoán, nhà quản trị công ty và các nhà đầu tư rất quan tâm trong báo cáo tài chính. Một dự báo về lợi nhuận hay một sự điều chỉnh trong dự báo đều được các nhà phân tích theo dõi rất chặt chẽ. Đối với các công ty niêm yết, giá trị của cổ phiếu công ty là giá trị hiện tại của các khoản lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai, lợi nhuận gia tăng đại diện cho sự tăng lên trong giá trị công ty, trong khi lợi nhuận sụt giảm là dấu hiệu giảm trong giá trị.
Tuy nhiên, việc chỉ tập trung đến lợi nhuận mà bỏ qua chất lượng lợi nhuận sẽ dẫn đến việc các nhà quản trị thực hiện không đúng với các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán để duy trì kỳ vọng tăng trưởng của doanh nghiệp, qua đó, không làm thất vọng các nhà đầu tư cùng với giới phân tích. Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) hàng năm trích dẫn hàng trăm trường hợp trong đó các nhà quản lý đã sử dụng các thao tác kế toán để làm gia tăng lợi nhuận cho công ty bao gồm cả các công ty có quy mô lớn và danh tiếng. Các công ty đã bị phá sản được cho là có gian lận về báo cáo tài chính có thể kể ra rất nhiều như: Lucent, Xerox, Rite Aid, Waste Management, Micro Strategy, Raytheon, Sunbeam, Enron, Worldcom, Global Crossing, Adelphia, Qwest. Các nhà quản lý cao cấp gồm cả giám đốc điều hành (CEO) và giám đốc tài chính (CFO) của những công ty này đều bị cho rằng đã tham gia vào việc chế biến số liệu hay quản trị thu nhập đưa đến báo cáo tài chính gian 7 lận.
Tại Việt Nam, Công ty Bông Bạch Tuyết (BBT), Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông (DVD) cũng không phải là những trường hợp duy nhất thiếu minh bạch dẫn đến thiệt hại cho nhà đầu tư. Chất lượng thu nhập Chất lượng thu nhập là mức độ mà thu nhập được báo cáo thể hiện thực tế tình hình kinh tế, để đánh giá một cách hợp lý thành quả tài chính của một công ty (Krishnan & cộng sự, 2008). Chất lượng thu nhập là một chỉ số quan trọng được sử dụng như một thước đo về hiệu suất của công ty. Chất lượng lợi nhuận cao hơn, hiệu suất của công ty cao hơn.
Các công ty có chất lượng lợi nhuận tương đối cao phản ánh kết quả hoạt động của công ty cao (Dechow & Schrand, 2004). Nó cung cấp thêm thông tin về các điều kiện thực hiện của công ty có liên quan đến quyết định cụ thể của những người ra quyết định cụ thể (Dechow & cộng sự, 2010). Chất lượng lợi nhuận cao phản ánh một số liệu tốt cho mục đích đánh giá, dự báo và đánh giá hiệu quả (Radzi & cộng sự, 2011). Pratt (2003) định nghĩa, chất lượng thu nhập là mức độ thu nhập thuần được báo cáo trên báo cáo kết quả kinh doanh khác với lợi nhuận thực".
Bellovary & cộng sự (2005) cho rằng, chất lượng thu nhập phụ thuộc vào sự trung thực của các con số được báo cáo, phản ánh “lợi nhuận thực” của công ty, cũng như tính hữu dụng của những con số báo cáo này trong việc dự báo lợi nhuận trong tương lai. Theo tài liệu của Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA, thuật ngữ chất lượng thu nhập được đề cập đến khi các nhà quản lý đưa ra các lựa chọn kế toán nhằm làm gia tăng thu nhập hiện tại và làm đẹp hình ảnh của công ty bất kể khả năng công ty có tạo ra được các khoản thu nhập tương tự trong tương lai hay không. Một số sử dụng thuật ngữ chất lượng thu nhập có nghĩa là mức độ nhà quản lý đưa ra các lựa chọn kế toán có thể ảnh hưởng đến thu nhập được báo cáo (các lựa chọn này xảy ra hàng kỳ). Ví dụ, những người sử dụng thuật ngữ theo cách này có thể đánh giá thu nhập của một công ty bảo hiểm có chất lượng thấp.
Ban quản lý 8 của công ty bảo hiểm hàng kỳ phải ước tính lại các khoản thanh toán trong tương lai cho người được bảo hiểm và đó là các ước tính thực sự không thể đo lường, chẳng hạn như một người sẽ sống được bao lâu hoặc các khoản thu nhập từ đầu tư trong tương lai. Các ước tính này rất khó để định lượng và công ty có cơ hội để ghi nhận một khoản lớn thu nhập định kỳ. Điều này khiến nhiều người nghĩ rằng thu nhập ghi nhận trong báo cáo của công ty bảo hiểm có chất lượng thấp. Một số người khác sử dụng thuật ngữ chất lượng thu nhập với nghĩa là mức độ nhà quản lý tận dụng sự linh hoạt của các lựa chọn kế toán.
Đối với những người này, một công ty bảo hiểm không thay đổi phương pháp và kỹ thuật ước tính mặc dù họ có cơ hội để làm việc này, được xem là công ty có chất lượng thu nhập cao. Một số người xem xét sự liên hệ thời gian giữa ghi nhận doanh thu với việc thu tiền và ghi nhận chi phí với chi tiêu tiền. Độ trễ trong thời gian ghi nhận càng ngắn thì doanh nghiệp có chất lượng thu nhập càng cao. Một doanh nghiệp có toàn bộ doanh thu bằng tiền, không bảo hành hoặc các cam kết hậu mãi và không có các tài sản dài hạn được cho là có chất lượng thu nhập cao.
Một doanh nghiệp tham gia vào một dự án xây dựng dài hạn với việc thu tiền vào thời điểm gần cuối dự án và các thiết bị xây dựng có tuổi thọ dài được xếp có chất lượng thu nhập thấp. Thuật ngữ chất lượng thu nhập cũng được sử dụng để mô tả mức độ các nhà quản lý lựa chọn các hạng mục có ảnh hưởng lớn đến thu nhập, họ có xu hướng lựa chọn các hạng mục dẫn đến việc ghi nhận thu nhập nhiều vào kỳ hiện hành hơn là dẫn đến các khoản thu nhập định kỳ nhưng thấp hơn. Do vậy, chất lượng thu nhập được đánh giá cao hơn khi các hạng mục thu nhập có khả năng tái diễn và ổn định. Theo một tài liệu của CFA Institute, dưới góc nhìn của nhà phân tích tài chính, chất lượng thu nhập là một thước đo phản ánh mức độ chính xác của trong thu thập hiện tại, là một chỉ báo tốt cho thu nhập trong tương lai và là một thước đo hữu ích để đánh giá giá trị doanh nghiệp.
Theo đó, các doanh nghiệp có chất lượng thu nhập cao là các doanh nghiệp có báo cáo tài chính phản ánh chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 9 Việc đánh giá chất lượng thu nhập của một doanh nghiệp cao hay thấp mang tính tương đối nhất định. Các nhà đầu tư thường đánh giá cao những doanh nghiệp có thu nhập ổn định theo thời gian và có thể dự đoán được. Tuy nhiên, thu nhập ổn định theo thời gian và có thể dự đoán được cũng chưa đủ để chứng minh một doanh nghiệp có thu nhập chất lượng cao.
Nếu dòng thu nhập đó không phù hợp với giá trị nội tại của doanh nghiệp thì rõ ràng doanh nghiệp này có chất lượng thu nhập thấp. Chất lượng thu nhập cũng có thể rất khác nhau giữa các doanh nghiệp ngay cả khi không có sự thao túng thu nhập một cách chủ ý. Không giống như việc xác định dòng tiền, xác định thu nhập đòi hỏi các ước tính và đánh giá, và một số doanh nghiệp cần phải đưa ra các dự báo và ước tính nhiều hơn những doanh nghiệp khác. Các khoản dồn tích có khả năng chứa các lỗi ước tính và các lỗi ước tính này làm giảm sự ổn định của thu nhập vì chúng phải được điều chỉnh lại trong thu nhập tương lai.