Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN 1. Khái niệm Thuật ngữ “giảng viên” được tiếp cận và giải nghĩa trên cả phương diện nghiên cứu và quản lý với ý nghĩa là người làm công tác chuyên môn giảng dạy, nghiên cứu của trường đại học, trường cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu và một số đơn vị khác được quy định cụ thể (sau đây gọi chung là cơ sở đào tạo). Đây cũng là quan niệm phổ biến, khái niệm rộng khi xem xét ở trên phạm vi toàn xã hội. Theo nhiều nhà từ điển học Việt Nam, “giảng viên là tên gọi chung những người làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, ở các lớp đào tạo, huấn luyện”[52].
Các nhà quản lý của Việt Nam khẳng định “giảng viên là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng”[2]. Một số nhà nghiên cứu lại có quan điểm về giảng viên theo cách tiếp cận từ góc độ dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, theo đó “giảng viên được định nghĩa là nhà giáo, nhà khoa học và nhà cung ứng dịch vụ cho cộng đồng”[12]. Như vậy, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý có cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa về giảng viên, song điểm chung trong các quan điểm đó là những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo. Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm rằng: Giảng viên là chức danh chuyên môn của những người làm công tác giảng dạy ở các cơ sở đào tạo đại học.
Đặc điểm lao động của giảng viên Hoạt động của các cơ sở đào tạo chủ yếu là đào tạo và nghiên cứu khoa học, trong đó giảng viên là lực lượng đóng vai trò hạt nhân, lao động của giảng viên trực tiếp tạo ra sản phẩm và quyết định đến sự tồn tại, phát triển của cơ sở đào tạo. Xuất phát từ vị trí, vai trò của giảng viên trong cơ sở đào tạo, có thể nhận thấy những đặc điểm lao động cơ bản của giảng viên, đó là lao động trí tuệ, lao động có tính khoa học, nghệ thuật và sáng tạo, lao động được thể hiện qua sản phẩm đặc biệt, đó là nhân cách (phẩm chất và năng lực) người học. Đây cũng là những đặc điểm cơ bản được nhiều công trình nghiên cứu đề cập[24][67]. - Thứ nhất, lao động của giảng viên là lao động trí tuệ.
Trên thực tế, giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn người học tiếp cận, lĩnh hội kiến thức thông qua việc sử dụng các phương pháp giảng dạy, nghiên cứu phù hợp và công cụ hỗ trợ thích hợp. Do đó, các hoạt động nghiệp vụ của giảng viên phải thể hiện được quá trình tích luỹ kiến thức, phương pháp giảng dạy và trau dồi kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp của cá nhân mỗi giảng viên để khẳng định năng lực nghề nghiệp của 10 Luan van mình. Pháp luật của Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới cũng đều có những quy định cụ thể về tiêu chuẩn trình độ kiến thức chuyên môn đối với những người làm nghề giảng viên, theo đó, họ phải là những người đã trải qua thời kỳ tích luỹ kiến thức chuyên môn ở mức độ cao và được đào tạo, bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy trước khi bước vào nghề[20]. Điều đó cho chúng ta thấy những tiền đề cần thiết mà mỗi cá nhân phải chuẩn bị trước khi thực hiện lao động trí tuệ.
- Thứ hai, lao động của giảng viên có tính khoa học, nghệ thuật và sáng tạo. Tính khoa học trong lao động của giảng viên là tư duy khoa học - yếu tố cần thiết phải có ở mỗi giảng viên để thực hiện nhiệm vụ của mình. Nội dung này thể hiện ở chỗ giảng viên phải biết chắt lọc kiến thức từ sự tích luỹ của mình để dẫn dắt người học tiếp cận kiến thức một cách nhanh và phù hợp với khả năng của họ thông qua bài giảng, hướng dẫn khoa học của giảng viên. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện ở việc xây dựng kế hoạch, lịch trình giảng dạy, nghiên cứu một cách lôgíc, khiến cho người học lĩnh hội kiến thức một cách thuận lợi nhất.
Tính nghệ thuật trong lao động của giảng viên là sự vận dụng khéo léo các yếu tố mang tính quy tắc để đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động nghiệp vụ của giảng viên. Tính nghệ thuật này thể hiện ở chỗ, hoạt động giảng dạy bị chi phối bởi nhiều quy tắc phù hợp với đặc điểm văn hoá, phong tục, v. của mỗi quốc gia, nhưng vấn đề là ở chỗ giảng viên phải biết vận dụng khéo léo các quy tắc đó trong các tình huống dạy học để đạt được hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu cao nhất. Bên cạnh đó, đối tượng của hoạt động lao động của giảng viên là con người có mặt bằng kiến thức tương đối tốt với những đặc điểm tâm lý khác nhau và trong khi thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, giảng viên phải tiến hành giao tiếp trực tiếp với họ, đòi hỏi giảng viên phải có hành vi ứng xử khéo léo, tế nhị để hoạt động giao tiếp đạt được hiệu quả cao, phục vụ tốt nhất cho mục đích truyền đạt kiến thức, hướng dẫn tiếp cận kiến thức của mình.
Tính sáng tạo trong lao động của giảng viên là sự vận dụng linh hoạt các kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động nghề nghiệp của giảng viên. Tính sáng tạo này thể hiện ở chỗ, giảng viên cần phải vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp nghiên cứu, giảng dạy phù hợp với từng đối tượng người học, từng tình huống, tránh dập khuôn, máy móc trong việc cung cấp, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn kỹ năng cho người học. - Thứ ba, lao động của giảng viên được thể hiện qua sản phẩm đặc biệt, đó là nhân cách (phẩm chất và năng lực) người học. Trên thực tế, đối tượng tác động trong lao động của giảng viên là con người trong môi trường đào tạo, nghiên cứu.
Đó là những con người có kiến thức giáo dục nền tảng, đang trong quá trình học tập chuyên môn, nghiệp vụ và hoàn thiện nhân cách để trở thành nguồn lao động có chất lượng 11 Luan van đáp ứng yêu cầu của xã hội. Chính vì thế, giảng viên cần phải có ý thức tự hoàn thiện mình để xây dựng hình ảnh người thầy và tạo được uy tín đối với người học bằng chính phẩm chất và năng lực của mình; không ngừng trau dồi kiến thức khoa học và công phu rèn luyện phẩm chất tốt đẹp để trở thành tấm gương sáng trong mắt người học. Một trong những tấm gương thường được nhắc đến trong xã hội đó là tâm gương “tự học và sáng tạo”, tấm gương “rèn đức luyện tài”. Nhiệm vụ cơ bản của giảng viên Giảng viên là chức danh chuyên môn của những người làm công tác giảng dạy ở các cơ sở đào tạo, cho nên có thể thấy ngay nhiệm vụ của giảng viên là thực hiện hoạt động giảng dạy - truyền đạt kiến thức.
Tuy nhiên, để thực hiện nhiệm vụ này, giảng viên cần phải có cả một quá trình học tập, nghiên cứu tích lũy kiến thức để có thể có đủ lượng thông tin cần truyền đạt. Do đó, có thể thấy nhiệm vụ chính của giảng viên là nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Bên cạnh đó, tuỳ vào vị trí, vai trò cụ thể trong cơ sở đào tạo hoặc đặc thù của môn giảng dạy hay đặc thù của cơ sở đào tạo mà giảng viên còn được giao thực hiện những nhiệm vụ khác như: Cố vấn học tập, tổ chức hoạt động ngoại khoá, tư vấn định hướng nghề nghiệp, v. Luật Giáo dục đại học năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018), Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV và Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT quy định nhiều nhiệm vụ của giảng viên, trong đó hai nhiệm vụ chính là nghiên cứu khoa học và giảng dạy.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tác giả xây dựng nội dung lý luận về nhiệm vụ của giảng viên phục vụ cho việc nghiên cứu khung lý thuyết về chất lượng giảng viên. Nhiệm vụ giảng dạy Nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên thể hiện qua việc truyền đạt kiến thức tới người học; dẫn dắt người học tìm kiếm, khám phá tri thức; định hướng về mặt phương pháp học tập, nghiên cứu cho người học. Nhiệm vụ này bao gồm nhiều nội dung: - Nghiên cứu và nắm vững mục tiêu giáo dục, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đại học, quy chế thi, kiểm tra, đánh giá, vị trí và yêu cầu của môn học, ngành học được phân công đảm nhiệm; nắm bắt khả năng, kiến thức của người học. - Xây dựng kế hoạch dạy học, đề cương môn học, bài giảng và thiết kế học liệu cần thiết phục vụ cho giảng dạy; giảng bài, phụ đạo và hướng dẫn người học kỹ năng học tập, làm thí nghiệm, thực hành, thảo luận, thực tập nghề nghiệp, tham gia các hoạt động thực tế phục vụ sản xuất và đời sống.
- Hướng dẫn sinh viên thực tập tốt nghiệp, xây dựng đề cương và làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp đại học; hướng dẫn học viên viết luận văn thạc sĩ, hướng dẫn nghiên cứu sinh viết chuyên đề và luận án tiến sĩ (nếu có đủ tiêu chuẩn theo quy định). 12 Luan van - Thực hiện quá trình đánh giá kết quả học tập của người học; tham gia giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho người học, giúp người học phát huy vai trò chủ động trong học tập và rèn luyện; hướng dẫn người học thực hiện mục tiêu đào tạo, nhiệm vụ chính trị của cơ sở đào tạo. - Hướng dẫn người học tham gia đánh giá hoạt động dạy học, thường xuyên cập nhật thông tin từ người học để xử lý, bổ sung, hoàn chỉnh phương pháp, nội dung, kế hoạch giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã hội. - Dự giờ và tham gia đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên khác; tham gia xây dựng và phát triển ngành học, chương trình đào tạo, cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu và thực hành môn học.
- Biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy; tham gia xây dựng các cơ sở thí nghiệm và thực hành. Trên thực tế, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ giảng dạy không chỉ là nhiệm vụ chính của giảng viên, mà còn là những nhiệm vụ mang tính thường xuyên, gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ sở đào tạo.