chương 1): sự chuyển đổi về đặc điểm dân số đề cập đến những thay đổi KT-XH do những biến đổi về kinh tế và tổ chức không gian gây 5 Đinh Huy Dương (Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục DS-KHHGĐ) 9 ra (và ngược lại) trong quá trình ĐTH ở Việt Nam. Sự chuyển đổi về phúc lợi – có tương quan mật thiết đến những thay đổi về kinh tế, không gian, hành chính và dân số – đề cập đến việc điều kiện sống của người dân Việt Nam có được cải thiện nhờ ĐTH hay không, nhất là đối với những người có hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, “Báo cáo phát triển con người” Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam giới thiệu tại Hà Nội ngày 09 tháng 11 năm 2011 cũng là tài liệu có giá trị cho Chính phủ và các nhà nghiên cứu. Báo cáo nhận định, Việt Nam đạt được tiến bộ về phát triển con người nhờ tăng trưởng kinh tế, song cần chú trọng đến y tế và giáo dục.
Đảm bảo tiếp cận phổ cập các dịch vụ xã hội (như y tế và giáo dục) có chất lượng và trong khả năng chi trả và tiếp cận phổ cập an sinh xã hội là nền tảng cho một xã hội thịnh vượng. Các tác giả của báo cáo cũng cho rằng cần phân phối gánh nặng chi trả cho các dịch vụ xã hội một cách công bằng hơn. Về vấn đề này, các tác giả khuyến nghị Chính phủ cần xem xét lại “chính sách xã hội hóa” hiện nay và tác động của nó đối với chi tiêu của hộ gia đình cho y tế và giáo dục. Nghiên cứu “CLDS với sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc” của tác giả Hứa Kim Thanh - Trung tâm Xã hội học, Viện khoa học xã hội Bắc Kinh được Đỗ Đức Hiến biên dịch từ tạp chí "Nghiên cứu dân số" (Trung Quốc).
Số tháng 9/1991 và đăng trên tạp chí “Dân số và Phát triển” số 1 năm 2003 xuất bản ngày 9 tháng 10 năm 2006 rất có giá trị về lý luận. Tác giả luận văn tâm đắc nhất là nội dung “Lý luận cái thùng gỗ của CLDS” phân tích nêu bật mối quan hệ giữa các yếu tố trong CLDS và hình tượng những tình thế mà CLDS Trung Quốc sẽ gặp: 1. Trung Quốc muốn nâng cao CLDS toàn diện và làm cho nó chuyển hoá một cách trực tiếp nhất, nhanh nhất thành lực lượng sản xuất thực tế thì trước hết phải nâng cao tố chất phi trí tuệ. …Đầu tư vào tố chất phi trí tuệ là loại đầu tư ít, sinh lợi nhiều và hiệu quả nhanh.
Nếu chỉ tiếp tục nâng cao tố chất thể chất và tố chất trí tuệ thì kết quả là chỉ tăng thêm tố chất tiềm năng chứ không phải là tố chất biểu hiện. Làm như vậy tất nhiên là có ý nghĩa nhất định nhưng cách làm này lại cần lượng đầu tư cực lớn, 10 trong đó lượng đầu tư vào tố chất thể chất chiếm đa số. Trong tình trạng tố chất phi trí tuệ tăng lên chậm chạp hoặc duy trì không đổi thì những đầu tư vào tố chất thân thể và tố chất trí tuệ sẽ có hiệu quả thấp thậm chí có khả năng là đầu tư vô ích. Tác giả khẳng định sự tăng trưởng năng suất lao động của người lao động nông thôn (xét về phương diện CLDS) lại không phải là do sự nâng cao của tố chất thể chất hay tố chất trí tuệ, mà chính là do sự nâng cao của tố chất phi trí tuệ (đặc biệt là tính tích cực lao động).
Chính vì do sự nâng cao tố chất phi trí tuệ, khiến cho tiềm năng về tố chất thân thể và tố chất trí tuệ vốn là có hạn của người lao động nông thôn được phát huy đến một trình độ nhất định. Ở Việt Nam Trên thế giới vấn đề CLDS, ĐTH đã được nghiên cứu từ lâu cho đến nay. Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này mới được tập trung nghiên cứu bắt đầu từ nửa cuối thế kỉ XX. Các nghiên cứu về chất lượng dân số Trước hết, phải đề cập đến những nghiên cứu các vấn đề liên quan đến CLDS vào những năm 1990 như: Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến CLDS và đề xuất những chính sách phù hợp về dân số và phát triển bền vững (đề tài NCKH độc lập cấp Nhà nước của Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ, 1999-2000); Bàn về nội hàm của CLDS;.
Các cuộc hội thảo với những chuyên gia nhiều kinh nghiệm của các bộ, ngành, cơ sở đào tạo và nghiên cứu về lĩnh vực DS-KHHGĐ và 6 cuộc hội thảo tại các địa phương như Đà Nẵng, Hải Phòng, Lạng Sơn, TP. HCM, Đắc Lắc, Cần Thơ với sự tham dự của đại diện Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ, Sở GD-ĐT, Sở LĐ-TB- XH, Cục Thống kê, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch. cơ bản giúp hoàn thiện khái niệm, định nghĩa về CLDS, các thành tố của CLDS, bộ tiêu chí đánh giá CLDS Việt Nam, các trị số tới hạn (max, min, tâm) của từng tiêu chí phục vụ tính toán chỉ số tổng hợp CLDS, quan hệ giữa từng tiêu chí thành phần tới CLDS, khả năng đảm bảo số liệu ở cấp trung ương, địa phương đảm bảo độ tin cậy tính toán chỉ số tổng 11 hợp CLDS, cũng như phương án lựa chọn cuối cùng về công thức tính chỉ số CLDS phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam. Từ năm 2001, có một số công trình đề cập tới quan niệm về CLDS, tới từng yếu tố riêng của CLDS, như thể trạng, hình thái thể lực, sức khoẻ con người, sức khoẻ sinh sản, sàng lọc trước sinh, hay các vấn đề về giáo dục, tuổi thọ.
Có nghiên cứu đề xuất các chỉ báo đo lường CLDS, chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá CLDS cấu thành từ 5 thành tố cơ cấu tuổi, thể lực, trí lực, ý thức xã hội và mức sống, song cũng chưa thể hiện hết các góc độ phong phú và đa dạng của CLDS. Năm 2003, trong khuôn khổ đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố KT-XH ảnh hưởng đến CLDS”, GS. Phạm Tất Dong và các cộng sự đã đề xuất việc tính toán CLDS của một cộng đồng dân cư cấp xã thông qua 9 chỉ thị đơn dùng để xác định 3 thành tố cơ bản của CLDS: thể chất, trí tuệ và tinh thần. Tuy nhiên các số liệu phục vụ cho việc tính toán chỉ số CLDS chủ yếu dựa trên kết quả điều tra với phạm vi hạn chế của đề tài tại thời điểm tiến hành nghiên cứu.
Pháp lệnh Dân số 06/2003/PL-UBTVQH11 ngày 09/01/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định: “Nâng cao CLDS là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao CLDS về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, xác định “CLDS là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số”. Đáng chú ý nhất là đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí báo cáo đánh giá CLDS và tính toán thử nghiệm cho các tỉnh, thành phố” Ban Chủ nhiệm đề tài với đồng chủ nhiệm của TS. Đoàn Minh Lộc 6, TS.
Dương Quốc Trọng 7. Kết quả đề tài đã mô tả phương pháp nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá CLDS với 17 chỉ số, thuộc 5 thành tố cơ bản. Để tính toán các chỉ số tổng hợp, Ban Chủ nhiệm áp dụng những phương pháp tính toán khoa học, được nhiều tổ chức uy tín 6 Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế. 7 Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ 12 sử dụng như UNDP, Tổng cục Thống kê… để tính toán Chỉ số tổng hợp CLDS cho toàn quốc và từng tỉnh thành phố.
Tiếp theo là các “Kết quả Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam” từ năm 2002 đến 2010 do TCTK tiến hành 2 năm một lần vào những năm chẵn trên các nội dung: Một số đặc điểm nhân khẩu học cơ bản liên quan đến mức sống; Giáo dục; Y tế và chăm sóc sức khoẻ; Việc làm và thu nhập; Chi tiêu; Nhà ở, điện nước, phương tiện vệ sinh và đồ dùng lâu bền; Giảm nghèo; Tham gia các chương trình xóa đói giảm nghèo; Các đặc điểm chung của xã nhằm theo dõi và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam; giám sát, đánh giá việc thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo; góp phần đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển KT- XH của Việt Nam. Phối hợp với một số bộ, ngành hữu quan, Uỷ ban quốc gia DS-KHHGĐ đã chủ trì triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về "Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến CLDS và đề xuất những chính sách phù hợp về dân số và phát triển bền vững", làm tiền đề cho việc triển khai chương trình CLDS và một số vấn đề liên quan đến an sinh gia đình. Kết luận đề tài tóm lại: Muốn duy trì được xu thế giảm sinh vững chắc, ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý góp phần đảm bảo phát triển bền vững đất nước chúng ta cần sớm giải quyết đồng bộ, có trọng điểm các vấn đề về cơ cấu, phân bố dân cư và CLDS. Chương trình Dân số và Phát triển trên kênh VTV2 với chủ đề : “Áp lực tăng dân số ở vùng ven TP.
HCM” đưa ra những vấn đề thời sự và ý kiến chuyên gia về vấn đề dân số và giải pháp nâng cao CLDS vùng ven TP. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển dân số và kinh tế - xã hội Hệ thống giáo trình phát hành năm 2011 bao gồm: Dân số học; Dân số và phát triển; Thống kê DS-KHHGĐ; Truyền thông DS-KHHGĐ; Dịch vụ DS - KHHGĐ; Quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ. Đáng chú ý, tác giả quan tâm nhiều nhất đến nội dung CLDS trong cuốn “Dân số học” từ trang 48 đến trang 58. Trong đó, các khái niệm, chỉ số, nhân tố ảnh hưởng đến CLDS được trình bày chi tiết.
13 Giáo trình “Dân số học cơ bản” do trường Cao Đẳng Y tế Hà Đông phát hành tại Hà Nội năm 2011. Tài liệu này nêu bật các nội dung về dân số trong đó đáng chú ý là nội dung về khái niệm CLDS, các chỉ tiêu đo lường CLDS và các yếu tố ảnh hưởng đến CLDS mà tác giả sử dụng tham khảo trong đề tài.