Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Khái quát chung về công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 1. Khái niệm công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Công chức là bộ phận quan trọng trong bộ máy QLNN, là lực lượng lao động chủ yếu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy HCNN từ trung ương đến địa phương. Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nước tư bản phương Tây.
Trên thực tế, mỗi quốc gia cũng có quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức: Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính. Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính. Ở Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chức nhà nước và công chức địa phương. Ở Việt Nam, quan niệm về công chức xuất hiện đầu tiên trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Đến nay, theo luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, quy định: công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH 14 ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 4) [34]. Từ một số quan điểm về công chức ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam, trong phạm vi luận văn này có thể đưa ra cách hiểu sau: công chức là người làm việc trong các cơ quan nhà nước (chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước), được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển (nếu đáp ứng điều kiện theo quy định), được bổ nhiệm vào ngạch hoặc vị trí công việc trong cơ quan nhà nước để thực hiện hoạt động công vụ và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan QLNN về ngành, lĩnh vực cấp trên.
Trên cơ sở các khái niệm có liên quan, có thể rút ra khái niệm Công chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh là công dân Việt Nam, được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển và bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan hành chính nhà nước thuộc UBND cấp 15 tỉnh, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trò của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Hoạt động QLNN là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và điều hành mọi hoạt động trong xã hội. Đó chính là hoạt động điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước. Hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng, xét cho cùng, được quyết định bởi phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức.
Vai trò của đội ngũ công chức các CQCM cấp tỉnh có thể khái quát như sau: Một là, đội ngũ công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là lực lượng hoạch định, xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Nhà nước, đội ngũ công chức hành chính là những lực lượng trực tiếp tham mưu và hoạch định kế hoạch, chiến lược của công tác quản lý hành chính, hoạch định các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chính các chiến lược, kế hoạch này sẽ quyết định chặng đường phát triển trước mắt và lâu dài của địa phương. Hai là, đội ngũ công chức này sẽ là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện pháp luật, trực tiếp tác nghiệp quản lý hành chính, thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Với chức năng quản lý toàn diện, mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh, bộ máy quản lý hành chính là công cụ chính để Đảng, Nhà nước và nhân dân quản lý xã hội và tổ chức xây dựng, bảo vệ tổ quốc. 16 Ba là, đội ngũ công chức các CQCM cấp tỉnh đóng vai trò quan trọng trong quá trình cải cách hành chính, là lực lượng quan trọng giúp gia tăng khả năng thích ứng của nền HCNN trước những biến động do môi trường mang lại. Đồng thời đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tóm lại, công chức các CQCM cấp tỉnh có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại của quá trình phát triển KT - XH, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
Vì vậy, cần nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực chuyên môn và khả năng hoạt động thực tiễn cho công chức các CQCM cấp tỉnh là công việc hết sức quan trọng và cần thiết hiện nay 1. Đặc điểm công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Đội ngũ công chức Việt Nam nói chung, đội ngũ công chức tại các CQCM cấp tỉnh nói riêng, được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình cách mạng nước ta, qua các thời kỳ khác nhau. Ngoài những đặc điểm chung, do đặc thù nghề nghiệp, lĩnh vực công tác, đội ngũ công chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh còn có một số đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, chất lượng công chức các CQCM cấp tỉnh quyết định hiệu quả công tác quản lý nhà nước ở địa phương. Về mặt pháp lý, các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh không thực hiện chức năng quản lý nhà nước (chỉ thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND cấp tỉnh), tuy vậy, trên thực tế, hệ thống các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh (công chức CQCM cấp tỉnh) lại trực tiếp tham gia thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nhất định.
Tất cả các tiến trình quản lý nhà nước địa phương đều do công chức chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện. Công 17 chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh có trách nhiệm triển khai, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của công chức cấp huyện. Thứ hai, công chức các CQCM cấp tỉnh là lực lượng lao động chuyên nghiệp có tính chuyên môn hóa cao, là cầu nối giữa Trung ương với chính quyền địa phương cấp huyện với vai trò trực tiếp chuyển tải và triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, công chức các CQCM cấp tỉnh có năng lực công tác, có chuyên môn, nghiệp vụ thì việc triển khai thực hiện sẽ có hiệu quả.
Ngược lại, nếu đội ngũ này yếu về năng lực và chuyên môn, nghiệp vụ thì việc chuyển tải và cụ thể hóa các đường lối chính sách trong thực tiễn sẽ không đạt hiệu quả. Thứ tư, hoạt động của công chức các CQCM cấp tỉnh diễn ra thường xuyên, liên tục, đòi hỏi hệ thống các CQCM và đội ngũ công chức phải đủ năng lực, kỹ năng để giải quyết tất cả các vấn đề thuộc phạm vi, lĩnh vực công tác để tham mưu một cách nhanh chóng, kịp thời. Tóm lại, công chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh là người có vị trí, vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư địa phương. Những vấn đề chung về chất lượng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 1.
Một số khái niệm 1. Chất lượng Chất lượng là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng. Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa trong tiêu chuẩn ISO 8402:2000 “Chất lượng là toàn bộ các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn các nhu cầu 18 đã được công bố hay còn tiềm ẩn” [2, tr. Crosby thì cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” [1, tr.
Tuy nhiên, con người là một thực thể phức tạp, do đó chất lượng của công chức không hoàn toàn giống với chất lượng của các loại hàng hóa, dịch vụ. Ở Việt Nam, chất lượng theo Từ điển tiếng Việt được hiểu là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc” [29, tr. Tóm lại, chất lượng là một khái niệm phức tạp, đa nghĩa và có nhiều cách hiểu khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm khác nhau về chất lượng như trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau: - Chất lượng của một đối tượng (sản phẩm, dịch vụ, hành động) là “giá trị” của nó, tức là những phẩm chất tốt đẹp của đối tượng mà người ta mong đợi.