ĐẶT VẤN ĐỀ Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định chƣơng trình khung đào tạo ngành điều dƣỡng trình độ đại học gồm 2 cấu phần: học lý thuyết tại trƣờng và thực tập lâm sàng tại các cơ sở y tế (CSYT) [1]. Quá trình thực tập lâm sàng kéo dài trong 3 học kỳ của tổng thời gian học tập toàn khóa. Trong quá trình thực tập tại CSYT sinh viên điều dƣỡng cũng có nguy cơ phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh nguy hiểm lây qua đƣờng máu nhƣ: viêm gan B, HIV,… Một trong những đƣờng lây truyền các tác nhân gây bệnh đó là thông qua chấn thƣơng do các vật sắc nhọn (VSN) [16] [18] [28] [57] [62]. Khả năng bị chấn thƣơng do VSN có thể cao hơn ở những đối tƣợng thiếu kinh nghiệm, mệt mỏi, lại phải thƣờng xuyên làm việc trong môi trƣờng mới, khẩn trƣơng nhƣ sinh viên ngành y [36] [57].
Theo WH), trung bình tần suất chấn thƣơng do VSN ở mỗi nhân viên y tế (NVYT) là 0,2 -4,7/năm, ƣớc tính 4,4% ca nhiễm HIV, 39% ca nhiễm HBV và HCV ở NVYT là do chấn thƣơng nghề nghiệp gây ra [73]. Theo CDC, từ năm 1995 - 2007 có 30.927 nhân viên y tế ở Mỹ bị phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể trong quá trình làm việc tại các cơ sở y tế, trong đó sinh viên y khoa chiếm 4% [37]. Tỷ lệ mắc chấn thƣơng do vật sắc nhọn ở sinh viên đại học điều dƣỡng trên thế giới rất khác nhau dao động từ 9,4% – 100% [34] [74]. Tại Việt Nam, chấn thƣơng do VSN đã trở thành một vấn đề phổ biến trong các cơ sở y tế, tỷ lệ mắc của NVYT trong cả nƣớc năm 2010 là 48%, trong đó có 286 trƣờng hợp bị phơi nhiễm với HIV qua các chấn thƣơng do VSN khi chăm sóc bệnh nhân HIV [18].
Tƣơng tự nhƣ các điều dƣỡng đã hành nghề, sinh viên điều dƣỡng cũng có nguy cơ mắc chấn thƣơng do vật sắc nhọn trong quá trình thực tập lâm sàng [48]. Theo thống kê của Bộ Y tế (2002) ở 45 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc có 343 trƣờng hợp NVYT bị tổn thƣơng nghề nghiệp có nguy cơ phơi nhiễm với HIV, trong đó sinh viên y khoa chiếm 4,1% [4]. Năm 2014, tại Trƣờng Cao đẳng Y tế Kiên Giang có 46,6 % sinh viên điều dƣỡng bị chấn thƣơng do VSN trong thực tập lâm sàng [13]. Tại Trƣờng Đại học Y khoa Vinh (2012) có 45% học sinh sinh viên (HSSV) trung học và cao đẳng điều dƣỡng bị chấn thƣơng do VSN [19]; năm 2014 có 2 sinh viên và tháng 6/2015 có 1 sinh viên bị chấn thƣơng do VSN có dính 2 máu của bệnh nhân HIV(+) trong khi thực tập lâm sàng, phải thực hiện phác đồ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) HIV [24].
Mặc dù chấn thƣơng do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng thƣờng gặp ở HSSV điều dƣỡng, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay ở Việt Nam còn rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, đặc biệt là chƣa có một nghiên cứu nào triển khai ở đối tƣợng sinh viên đại học điều dƣỡng. Ngay trong quá trình học tập sinh viên điều dƣỡng đã bị chấn thƣơng do các vật sắc nhọn, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đƣờng máu ảnh hƣởng lâu dài đến sức khỏe bản thân. Hơn nữa, trong tƣơng lai khi đã hành nghề điều dƣỡng thì tần suất thực hiện các y lệnh, thủ thuật, và chăm sóc bệnh nhân sẽ nhiều hơn, nguy cơ bị chấn thƣơng sẽ còn tăng cao hơn. Do vậy, việc nắm bắt rõ thực trạng kiến thức, tỷ lệ mắc và xác định các yếu tố liên quan; để cung cấp các bằng chứng làm cơ sở cho đề xuất, xây dựng kế hoạch, thực hiện chƣơng trình can thiệp phòng chống chấn thƣơng do vật sắc nhọn để bảo vệ sức khỏe cho sinh viên điều dƣỡng ngay từ lúc bắt đầu tiếp xúc nghề nghiệp là hết sức cần thiết.
Chính vì, những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chấn thƣơng do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dƣỡng Trƣờng Đại học Y khoa Vinh, năm 2015”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ sinh viên đại học điều dƣỡng năm thứ 3, thứ 4 Trƣờng Đại học Y khoa Vinh có kiến thức đúng về phòng chống chấn thƣơng do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng năm 2015. Mô tả thực trạng chấn thƣơng do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên đại học điều dƣỡng năm thứ 3, thứ 4 Trƣờng Đại học Y khoa Vinh.
Xác định một số yếu tố liên quan đến chấn thƣơng do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên đại học điều dƣỡng Trƣờng Đại học Y khoa Vinh. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm Chấn thương: Chấn thƣơng là bất cứ tổn thƣơng có chủ định hay không có chủ định cho cơ thể ngƣời đƣợc gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp tính đối với năng lƣợng nhiệt, cơ học, điện hay năng lƣợng hoá học, hay bởi sự thiếu vắng của các yếu tố thiết yếu nhƣ sức nóng hay ôxy [27]. Vật sắc nhọn: Bất cứ vật nào có thể gây tổn thƣơng xâm lấn da hoặc qua da; vật sắc nhọn bao gồm kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm [3], [54]. Chấn thương do vật sắc nhọn: Chấn thƣơng do vật sắc nhọn là tình trạng da bị xâm nhập bởi các vật sắc nhọn và địa điểm xảy ra ở trong một cơ sở y tế.
Các vật sắc nhọn có thể gồm: kim, lƣỡi chích, dao mổ và mảnh thủy tinh vỡ [36], [54], [62]. Dự phòng sau phơi nhiễm: Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh đƣờng máu sau phơi nhiễm [3].2 Tình hình chấn thƣơng do vật sắc nhọn ở các cơ sở y tế 1.1 Trên thế giới Tại các CSYT trong quá trình làm việc có những ngƣời phải tiếp xúc nghề nghiệp với máu và các dịch cơ thể của bệnh nhân, đã có nhiều ngƣời bị mắc các bệnh lây nhiễm đƣờng máu qua các vết thƣơng gây nên bởi các VSN [36], [62]. Các tác nhân gây bệnh lây truyền qua máu phổ biến là HBV, HCV và HIV. Vật sắc nhọn gây chấn thƣơng phổ biến gồm: kim tiêm, dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ [37].
Theo WHO, số lần chấn thƣơng do VSN trung bình ở NVYT (tính bao gồm cả những CBYT đã hành nghề và sinh viên y khoa thực tập) là 0,2 - 4,7 lần/năm [62], tỷ lệ mới mắc chấn thƣơng do kim tiêm đâm là 1,4-9,5/100ngƣời/năm, trung bình 3,7/100ngƣời/năm; tính theo giƣờng bệnh 6,3/100giƣờng bệnh/năm [40]. 5 Uớc tính số mới mắc chấn thƣơng do VSN hàng năm ở các CSYT một số nƣớc nhƣ sau: Mỹ 384.200 và Tây Ban Nha 21. Mặc dù số mắc chấn thƣơng rất lớn nhƣng số báo cáo về chấn thƣơng cho ngƣời, đơn vị quản lý lại rất thấp. Ƣớc tính tại Mỹ có 43% CBYT và 45-65% sinh viên thực tập có báo cáo sự việc bị chấn thƣơng; tại Italia là 40 - 65%; Tây Ban Nha 40-60%; tỷ lệ báo cáo thấp nhất là ở Đức 6,3-14,7%.
Lý do chính mà ngƣời bị chấn thƣơng không báo cáo là do vết thƣơng gây ra rất nhỏ 38%, và họ tin rằng có đủ bảo hộ cần thiết để không bị phơi nhiễm với HBV 19%, không có thời gian báo cáo 12%, và lý do không biết có hệ thống ghi nhận 10%. Nguy cơ mắc chấn thƣơng ở các nhóm đối tƣợng là khác nhau, tùy thuộc vào chức danh, nhiệm vụ, vị trí làm việc trong các CSYT. Thống kê của CDC trên 64 bệnh viện của nƣớc Mỹ từ năm 1995-2007 đã có 30.945 lƣợt ngƣời làm việc tại cơ sở y tế bị phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể bệnh nhân. Đối tƣợng chính bị phơi nhiễm gồm: điều dƣỡng 42%, bác sĩ 30%, kỹ thuật viên 15% và sinh viên 4%.
Vật sắc nhọn gây chấn thƣơng phổ biến là: kim rỗng nòng (kim tiêm, lấy máu, chuyền tĩnh mạch…) 55%, kim khâu phẫu thuật 21%, dao mổ 8%, mảnh thủy tinh 1%. Địa điểm xảy ra chấn thƣơng chủ yếu là ở các buồng bệnh 36%, phòng mổ 29%, phòng thủ thuật 9%, khoa cấp cứu 8%. Hầu hết các chấn thƣơng xảy ra trong quá trình sử dụng của dụng cụ y khoa 70%, 15% sau khi sử dụng nhƣng trƣớc khi xử lý…[37]. Tại Anh, các VSN gây chấn thƣơng phổ biến là do các loại kim rỗng nòng 65%, kim khâu vết thƣơng 21% và 14% các vật sắc nhọn khác nhƣ dao mổ, thám trâm…[58].
Hệ thống giám sát nghề nghiệp các bệnh truyền nhiễm lây qua đƣờng máu thông qua phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của bệnh nhân tại thành phố Rio de Janeiro, Brazil trong thời gian tám năm ghi nhận đƣợc 15.035 trƣờng hợp phơi nhiễm từ 537 CSYT. 70% các trƣờng hợp chấn thƣơng liên quan đến thao tác với VSN: đậy nắp kim 14%, chuẩn bị và sử dụng dụng cụ thủ thuật, phẫu thuật 14%, thu gom chất thải 13%, xử lý rác 13%, chuyền tĩnh mạch 10%, lấy máu 5% [63]. Tại các nƣớc Châu Phi, tỷ lệ NVYT bị ít nhất 1 lần tổn thƣơng do VSN trong vòng 12 tháng nhƣ sau: Kenya năm 2012 là 75% [72]; Uganda năm 2005 là 57% [42], năm 2010 là 68,7% [76]; bác sĩ trẻ ở Nam Phi (2005) lên tới 91%, trong đó 6 55% chấn thƣơng đến từ bệnh nhân HIV/AIDS [46], [59]. Năm 2011, tỷ lệ mắc chấn thƣơng tại bệnh viện thực hành trƣờng đại học Alexandria, Ai Cập là 67,9%, trong đó điều dƣỡng chiếm tỷ lệ cao nhất 62,3%, sinh viên y khoa thực tập 10,7% [53].
Theo Maha Talaat, trung bình NVYT ở Ai Cập bị chấn thƣơng do VSN 4,9 lần/năm [70]. Số lần mắc trung bình của điều dƣỡng và nữ hộ sinh bệnh viện Mulago, Uganda là 4,2 lần/ngƣời/năm [42]. Tại khu vực Châu Á, tỷ lệ mắc và tần suất mắc trung bình khác nhau giữa các nƣớc, các vùng. Bệnh viện dân sự Karachi, Pakistan (2012) có 77% NVYT bị chấn thƣơng do vật sắc nhọn [60].
Bệnh viện ở Delhi, Ấn Độ (2008) có 256 ngƣời ngƣời làm việc tại đây bị kim tiêm đâm chiếm 79,5%, trung bình số lần bị chấn thƣơng do kim tiêm là 3,85 lần/1NVYT mắc. Trong vòng 1 năm làm việc, trung bình một NVYT bị chấn thƣơng do kim đâm là 4,5 lần. 94,2% sinh viên điều dƣỡng thực tập tại bệnh viện bị chấn thƣơng do kim tiêm, là nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất tại bệnh viện [64]. Trong năm 2009 tại bệnh viện đa khoa ở Bắc Kinh có 1.201 NVYT thì ghi nhận đƣợc 4.