CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chửa ngoài tử cung 1. Giải phẫu tử cung Vòi tử cung (VTC) là ống dẫn trứng, bắt đầu mỗi bên từ sừng tử cung kéo dài tới sát thành chậu hông và mở thông với ổ bụng ở sát bề mặt của buồng trứng, có nhiệm vụ đưa noãn (trứng) về buồng tử cung (BTC). VTC nằm giữa 2 lá bờ tự do của dây chằng rộng và được treo vào phần còn lại của dây chằng rộng bởi mạc treo VTC [10].
Ở phụ nữ trưởng thành, VTC dài khoảng 10 -12 cm, đầu nhỏ ở sát sừng tử cung rồi to dần về phía tận cùng giống như kèn trompette, thông với buồng tử cung bởi lỗ tử cung vòi và thông với ổ phúc mạc bởi lỗ bụng vòi tử cung. Vòi tử cung được chia thành 4 đoạn: đoạn kẽ, đoạn eo, đoạn bóng, đoạn loa: - Đoạn kẽ: nằm trong thành tử cung, dài khoảng 1cm, hẹp dưới 1mm. - Đoạn eo: dài khoảng 2 - 4 cm, khẩu kính khoảng 1mm. - Đoạn bóng: dài khoảng 5 - 7 cm, trong lòng không đều do các nếp gấp cao của niêm mạc, là nơi noãn và tinh trùng gặp nhau tạo nên sự thụ tinh.
- Đoạn loa dài khoảng 2 cm, hình phễu và có từ 10 - 12 tua, mỗi tua dài 1 - 1,5 cm. Tua dài nhất là tua Richard dính vào dây chằng vòi - buồng trứng. Có nhiệm vụ hứng noãn được phóng ra khỏi buồng trứng vào vòi tử cung [10]. Vòi tử cung nhìn ngoài [45] 3 1.
Sinh lý bệnh và sự tiến triển của chửa ngoài tử cung Chửa ngoài tử cung là trường hợp trứng được thụ tinh, làm tổ và phát triển ở ngoài buồng tử cung [25]. Do cấu tạo giải phẫu và cấu trúc mô học của các vị trí khác như vòi tử cung, buồng trứng hay ổ bụng không giống như buồng tử cung nên khi trứng làm tổ và phát triển tại các vị trí này khối chửa đều bị thiếu hụt sự đáp ứng kích thích nội tiết, sự phát triển không đầy đủ của màng rụng và hệ thống huyết quản để đảm bảo sự phát triển của thai. Hậu quả là hầu hết các trường hợp CNTC đều gây chết bào thai ở giai đoạn sớm hoặc tiến triển gây chảy máu, nứt vỡ tại các vị trí thai làm tổ. Khi trứng làm tổ vòi tử cung, gai rau không gặp ngoại sản mạc, không tạo thành hồ huyết do đó không được cấp máu đầy đủ dẫn đến biến chứng.
Nguyên nhân và các yêu tố nguy cơ - Viêm dính tiểu khung, vòi tử cung: Vi khuẩn gây viêm tiểu khung do lậu, Chlamydia, vi khuẩn ái khí, vi khuẩn kỵ khí. Viêm gây huỷ hoại lớp niêm mạc và tua VTC dẫn đến tắc VTC. Viêm tắc VTC gây giảm nhu động VTC, mất hoặc giảm tế bào lông và tế bào chế tiết làm cản trở sự vận chuyển của trứng gây CNTC [37]. - Tiền sử phẫu thuật vùng bụng: phẫu thuật gan, lách, dạ dày, ruột thừa, phẫu thuật lấy thai, CNTC, u nang buồng trứng.
gây viêm dính, gập, hẹp tắc VTC. - Khối u: u xơ tử cung, u phần phụ, khối u trong lòng VTC làm tắc VTC hoặc khối u ở ngoài đè ép VTC gây hẹp lòng VTC hoặc làm rối loạn chức năng VTC. Lạc nội mạc tử cung ở VTC làm hẹp lòng VTC. - Bất thường về giải phẫu: VTC có túi thừa, quá dài, thiểu sản, hình kèn.
Tiền sử tạo hình VTC, triệt sản. Rối loạn chức năng VTC gây ảnh hưởng đến sự vận chuyển phôi. Thời gian di chuyển của phôi lâu hơn bình thường, phôi chưa kịp về buồng tử cung thì đã làm tổ tại VTC [32]. - Thuốc thai chỉ chứa progestin.
- Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản kích thích rụng trứng bằng Gonadotropin, thụ tinh trong ống nghiệm.