CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về ung thư phổi [1], [2], [4], [11] Ung thư phổi (UTP) là sự tăng trưởng bất thường của các mô trong phổi. Đây là một trong 3 ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở phạm vi toàn cầu. Theo ghi nhận của Globocan, năm 2012, ước đoán số ca mới mắc trên toàn thế giới là 1,8 triệu ca chiếm 12,9% tổng số ca mắc do ung thư, 58% bệnh xuất hiện tại những nước kém phát triển. Tới năm 2020 ung thư phổi vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư, với ước tính khoảng 1,8 triệu ca tử vong.
Ở Việt Nam ung thư phổi là 1 trong 2 loại ung thư mắc nhiều nhất ở cả 2 giới, có hơn 26.000 ca mắc mới và gần 24.000 ca tử vong.1 Triệu chứng ung thư phổi * Triệu chứng cơ năng: - Ho: Là triệu chứng hay gặp ở người bệnh UTP. Khoảng trên 50% người bệnh vào thời điểm ban đầu có triệu chứng ho, về sau ho gặp ở hầu hết các người bệnh. - Ho máu: Chiếm khoảng 25- 50% các trường hợp. Ho ra máu trong ung thư phổi có nhiều mức độ khác nhau.
Ho ra máu với số lượng lớn trong UTP có thể gây tử vong nhanh trong nhiều trường hợp. - Khó thở: Là triệu chứng khá thường gặp trong UTP, chiếm khoảng 25% các trường hợp. Khó thở có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm do khối u hoặc bệnh phổi mạn tính kèm theo và có thể do nhiều yếu tố kết hợp khác gây khó thở. Ngoài ra các biến chứng của xạ trị cũng là nguyên nhân gây khó thở trong UTP.
- Đau ngực: khoảng 20% UTP có triệu chứng này. Đau ngực có thể xảy ra ở người bệnh UTP giai đoạn rất sớm mà không có xâm lấn màng phổi, thành ngực hoặc trung thất. Đau không phải là dấu hiệu tiên lượng xấu và thường đáp ứng tốt với việc quản lý khối u. - Khàn tiếng: Thường do khối u xâm lấn hoặc hạch cửa sổ chủ - phổi chèn ép gây tổn thương dây thần kinh quặt ngược trái dẫn đến liệt dây thanh âm trái.
* Triệu chứng thực thể Hội chứng, triệu chứng do bệnh tiến triển tại chỗ, tại vùng của khối u: 4 - Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên: Là một biến chứng tương đối thường gặp của UTP. Nguyên nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên là do các hạch cạnh khí quản ở bên phải to lên hoặc do khối u nguyên phát ở thùy trên phải lan rộng về trung tâm. Triệu chứng: sưng nề mặt, đỏ mặt, ho, các tĩnh mạch cổ và ngực giãn. Mức độ nặng của các triệu chứng phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ tiến triển của tắc nghẽn, tốc độ và mức độ phát triển của tuần hoàn bàng hệ.
Nguy hiểm nhất khi sự tắc nghẽn tiến triển nhanh có thể dẫn đến các triệu chứng thần kinh trung ương, hôn mê và tử vong. Nhiều trường hợp, bệnh khởi phát âm ỉ với sưng nề dần vùng mặt, chi trên và ngực làm cho người bệnh đi khám. - Hội chứng Pancoast Tobias: Do khối u chèn ép vào đám rối thần kinh cánh tay, từ C7-D1-D2, gây ra các triệu chứng đau vai, cổ lan ra mặt trong cánh tay, kèm rối loạn cảm giác, thường gặp ở BN có khối u vùng đỉnh phổi. - Hội chứng Claud Bernard Horner: Triệu chứng sụp mi cùng bên, co đồng tử, thụt nhãn cầu và giảm tiết mồ hôi nửa mặt cùng bên do sự tổn thương của hạch thần kinh cổ trên.
Thường phối hợp cùng hội chứng Pancoast Tobias. - Tràn dịch màng phổi: Khoảng 15% người bệnh UTP có tràn dịch màng phổi vào lúc chẩn đoán. Hầu hết sau đó được xác định là ác tính. Khám có hội chứng ba giảm đáy phổi.
- Tràn dịch màng tim: Tỷ lệ gặp 5 - 10%. Triệu chứng đầu tiên thường khó thở, đặc biệt khi nằm. Các dấu hiệu khác như lo âu, cảm giác bó chặt ngực dưới xương ức, giãn tĩnh mạch cổ, gan to. Tràn dịch màng tim gây ép tim dễ bị bỏ sót ở một phần ba số người bệnh.
- Viêm phổi, nhiễm trùng phế quản cấp: Là những triệu chứng thường gặp trong UTP do khối u làm tắc các phế quản gây ra. Một số người bệnh có thể không có các triệu chứng kinh điển của viêm phổi như sốt cao, đau ngực, ho, khó thở nhưng có thể có nhiều triệu chứng toàn thân hơn như mệt mỏi. - Nuốt nghẹn do khối u chèn ép vào thực quản. - Nấc do khối u xâm lấn gây tổn thương thần kinh hoành.
* Hội chứng, triệu chứng do di căn xa: - Đau do di căn xương: ung thư phổi có thể di căn đến bất cứ xương nào trong đó các xương trục (xương sọ, cột sống) và các xương dài hay bị di căn nhất. - Gan to: là dấu hiệu của di căn gan. Trên lâm sàng, người bệnh di căn gan thường Thư viện ĐH Thăng Long 5 có các triệu chứng khác kèm theo như mệt, sút cân, khó chịu vùng thượng vị, hay đau tức vùng hạ sườn phải, nôn và buồn nôn, vàng da. - Hội chứng não, màng não do khối u di căn: Người bệnh có biểu hiện đau đầu, nôn, buồn nôn, kém tập trung, co giật, lú lẫn, thất điều hoặc rối loạn về thị lực hoặc có liệt dây thần kinh sọ, liệt nửa người.
* Hội chứng cận u - Hội chứng nội tiết: hội chứng tiết hormon chống bài niệu không phù hợp ADH (SIADH), hội chứng tăng tiết ACTH, tăng calci huyết, tăng sinh các hormon khác: calcitonin, prolactin, insulin. - Các hội chứng thần kinh: hội chứng Lambert – Eaton. - Hội chứng Pierre – Marie: to đầu chi, đau nhức, phì đại xương khớp. - Các hội chứng cận u biểu hiện ở da.
- Các biểu hiện ở tm mạch, huyết học. - Các biểu hiện ở thận: viêm cầu thận màng và các hội chứng về thận. * Triệu chứng toàn thân: Chán ăn, mệt mỏi, thể chất suy giảm, giảm cân, thiếu máu, sốt kéo dài 1.2 Nguyên nhân gây ung thư phổi * Hút thuốc Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây ung thư phổi. Khói thuốc lá chứa hơn 60 chất độc hại khác nhau, được biết là chất gây ung thư.
Thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá của người khác (hút thuốc thụ động) cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Mặc dù hút thuốc lá là yếu tố rủi ro lớn nhất, nhưng sử dụng các loại sản phẩm thuốc lá khác cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi và các loại ung thư khác, chẳng hạn như ung thư thực quản và ung thư miệng .Những sản phẩm này bao gồm: xì gà, thuốc lào, hít (một dạng thuốc lá dạng bột) Hút cần sa cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi. Hầu hết những người hút cần sa trộn nó với thuốc lá. Mặc dù họ có xu hướng hút ít thuốc lá hơn những người hút thuốc lá thông thường, nhưng họ thường hít sâu hơn và giữ khói trong phổi lâu hơn.
6 * Phơi nhiễm nghề nghiệp và ô nhiễm Tiếp xúc với một số hóa chất và chất được sử dụng trong một số nghề nghiệp và ngành công nghiệp có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi. Những hóa chất và chất này bao gồm: thạch tín, amiăng, berili, cadimi, khói than và than cốc, silic điôxít, niken Ngoài ra việc thường xuyên tiếp xúc với khói dầu diesel trong nhiều năm sẽ làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi. * Các yếu tố khác Điều trị tia xạ Xơ phổi Nhiễm HV Các yếu tố về gia đình, gen Nghiện rượu Chế độ ăn Vius gây ung thư Yếu tố nội tiết 1.3 Xét nghiệm chẩn đoán ung thư phổi * X-quang ngực Chụp X-quang ngực thường là xét nghiệm đầu tiên được sử dụng để chẩn đoán ung thư phổi. Tuy nhiên, chụp X-quang ngực không thể đưa ra chẩn đoán chính xác vì chúng thường không thể phân biệt giữa ung thư và các tình trạng khác, chẳng hạn như áp xe phổi.
* Chụp CT Chụp CT có giá trị chẩn đoán với độ nhạy 92%, độ đặc hiệu 99% và độ chính xác 98%, CT có ý nghĩa quan trọng giúp đánh giá khả năng phẫu thuật. * Chụp cộng hưởng từ MRI Trong UTP, MRI có giá trị chẩn đoán cao đặc biệt đánh giá xâm lấn, xác định các di căn xa như gan, tuyến thượng thận với giá trị cao hơn CLVT với độ nhạy 88%, độ đặc hiệu 93%. Đánh giá di căn não với độ nhạy 92%, độ đặc hiệu 99%. Tuy nhiên MRI trong các bệnh lý nhu mô phổi còn nhiều hạn chế do chuyển động sinh lý của phổi và hiện tượng không đồng nhất tín hiệu do các phế nang phổi chứa khí, độ phân giải không gian hạn chế.
Thư viện ĐH Thăng Long 7 * Chụp PET-CT PET/CT giúp phát hiện tế bào ung thư ở những giai đoạn rất sớm ngay khi mới chỉ có sự rối loạn nhỏ nhất của tế bào, tầm soát, đánh giá và phát hiện di căn của khối u * Xạ hình bằng máy SPECT * Soi phế quản và sinh thiết * Siêu âm nội phế quản (EBUS), kết hợp nội soi phế quản với siêu âm. *Các loại sinh thiết khác * Các chất chỉ điểm ung thư * Phương pháp lấy bệnh phẩm chẩn đoán xác định - Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư - Chọc hút, sinh thiết hạch thượng đòn. - Chọc hút dịch màng phổi làm xét nghiệm tế bào học, sinh thiết màng phổi, nội soi màng phổi sinh thiết tìm tế bào ung thư. - Soi phế quản tìm tế bào ung thư.
- Chọc hút, sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của X-quang, siêu âm, CT lấy bệnh phẩm.4 Các phương pháp điều trị ung thư phổi * Phẫu thuật Phẫu thuật là phương pháp được lựa chọn đầu tiên và cơ bản, thực hiện ở giai đoạn sớm (giai đoạn I, II, IIIA). Phẫu thuật chuẩn được khuyến cáo là cắt thùy phổi nạo vét hạch vùng hệ thống theo bản đồ ở các chặng N1, N2. Mục đích là loại bỏ triệt để khối u và các hạch di căn trong lồng ngực, ngăn chặn xâm nhiễm cục bộ và di căn xa, làm giảm bớt hoặc mất các triệu chứng lâm sàng phát sinh do khối u gây ra, tạo điều kiện thuận lợi cho các phương pháp điều trị bổ trợ khác Các phương pháp phẫu thuật: Cắt phổi theo giải phẫu chuẩn, cắt phổi không theo giải phẫu chuẩn (cắt không điển hình) hay phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi nạo vét hạch. * Hóa trị Chiến lược lựa chọn phác đồ điều trị là rất cần thiết dựa vào từng giai đoạn bệnh, týp mô bệnh học và thể trạng người bệnh.