Chương 1: Tổng quan về CDs và ứng dụng (35 trang) cung cấp tổng quan về đặc điểm, tính chất quang học, các loại CDs, phương pháp chế tạo và ứng dụng trong phát hiện ion kim loại, cảm biến pH, cùng tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. Chương 2: Các phương pháp thực nghiệm (11 trang) trình bày quy trình chế tạo CDs và vật liệu nano Fe3O4@CDs bằng phương pháp thủy nhiệt, kết hợp các kỹ thuật phân tích như HR-TEM, SEM, XRD, FT-IR, PL, UV-Vis. Chương 3: Cấu trúc và tính chất của CDs (19 trang) đi sâu vào cấu trúc, tính chất quang học của CDs, cơ chế hình thành phát xạ kép trên DE-CDs, cùng các đặc tính như hiệu suất lượng tử và độ bền quang. Chương 4: Ứng dụng của CDs trong môi trường (31 trang) phân tích ứng dụng của CDs trong cảm biến môi trường, với SE-CDs ứng dụng trong phát hiện ion Fe3+ trong nước và DE-CDs phát hiện đồng thời ion Fe3+ và Pb2+.
Ứng dụng của vật liệu nano tổ hợp Fe3O4@CDs và ứng dụng trong hệ bay hơi nước sử dụng năng lượng Mặt trời. Phần Kết luận chung (1 trang) tóm tắt những đóng góp mới của luận án. Danh mục các công trình công bố sử dụng trong luận án (1 trang), danh mục các công trình công bố có liên quan tới luận án (1 trang) và tài liệu tham khảo (16 trang) gồm 155 tài liệu tham khảo. Luận án bao gồm 59 hình và 6 bảng số liệu.
TỔNG QUAN VỀ CDs VÀ ỨNG DỤNG 1. GIỚI THIỆU VỀ CDs 1.1 Đặc điểm chung của CDs Chấm carbon (CDs) là vật liệu nano carbon được phát hiện gần đây vào năm 2004 bởi nhóm tác giả Xu [133]. CDs là vật liệu không chiều với kích thước trung bình thường nhỏ hơn 10 nm. Cấu tạo của CDs gồm 2 phần chính là lớp vỏ và lõi carbon.
Lớp lõi carbon bao gồm khung carbon sp2/sp3 được bao bọc bởi lớp vỏ gồm nhiều các nhóm chức như OH, COOH, COH và NH2. Khác với chấm lượng tử truyền thống được chế tạo từ các kim loại như Pb, Zn, Ga, As, v. thành phần chủ yếu của CDs là các nguyên tố hữu cơ như C, O, H và N. Tổng quan về các ứng dụng của CDs [114].
Kể từ khi được phát hiện, CDs nhận được rất nhiều sự chú ý của các nhà khoa học bởi vì chúng sở hữu nhiều ưu điểm so với các vật liệu carbon đã được phát hiện và các vật liệu quang đã được sử dụng. Đặc biệt là các tính chất quang và khả năng 6 chế tạo cực kỳ dễ dàng từ vô số các nguồn nguyên liệu khác nhau. Một trong số những tính chất quang nổi bật của CDs là khả năng phát xạ vùng phổ trải rộng từ vùng cực tím tới vùng hồng ngoại khi được kích thích bởi các bước sóng vùng cực tím [66]. Hiệu ứng giam giữ lượng tử cũng được quan sát trên một số loại CDs và nó cho phép các nhà khoa học dễ dàng điều khiển các tính chất quang học của CDs bằng việc thay đổi kích thước của CDs.
Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng, CDs có độ bền quang tốt, khả năng dẫn điện tốt, độ độc lên tế bào thấp, thân thiện với môi trường, dễ dàng chế tạo với nhiều phương pháp và tiền chất khác nhau [84]. Tận dụng nhưng ưu điểm này, CDs đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như cảm biến quang học, chụp ảnh sinh học, dẫn truyền thuốc, LED, pin mặt trời như trên Hình 1. Trong tương lai, CDs còn được kỳ vọng rất lớn để có thể thay thế được các chấm lượng tử truyền thống thường mang độc tính cao lên tế bào và gây ô nhiễm môi trường nếu bị phát tán ra bên ngoài. Tính chất quang học của CDs Phổ hấp thụ của CDs Phổ hấp thụ được dùng để biểu diễn khả năng hấp thụ ánh sáng của vật liệu đối với các bước sóng khác nhau.
Phổ hấp thụ của vật liệu bất kỳ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất vật liệu, kích thước của vật liệu, biểu đồ các mức năng lượng và trạng thái của các các điện tử. Đối với hạt có kích thước cỡ vài nano, phổ hấp thụ của chúng khác hoàn toàn so với vật liệu ở dạng khối do các hiệu ứng lượng tử xảy ra khi kích thước vật liệu nhỏ hơn nhiều lần so với bán kính Bohr. Mỗi nguyên tử có các mức năng lượng riêng biệt trong các orbital s, p, d, f, nhưng khi các nguyên tử được đưa lại với nhau để tạo thành chất rắn, các điện tích electron trong mỗi orbital sẽ chồng lấn giữa các nguyên tử liền kề và các mức năng lượng của các nguyên tử bị cô lập sẽ tách ra để tạo thành các dải năng lượng [94]. Theo nguyên lý loại trừ của Pauli, tổng các trạng thái lượng tử không thay đổi.
Tuy nhiên, không có hai điện tử nào có thể cùng chung một số lượng tử, dẫn tới sự tách mức năng lượng để các điện tử có một trạng thái lượng tử riêng biệt [54]. Mô tả các vùng năng lượng trong chất bán dẫn [57]. Sự tách mức năng lượng hình thành nên 3 vùng năng lượng như trên Hình 1.2, bao gồm: vùng hóa trị, vùng cấm và vùng dẫn. - Vùng hóa trị: Là vùng có năng lượng thấp nhất cho phép các điện tử điền đầy hoàn toàn.
- Vùng dẫn: Là vùng có mức năng lượng cao nhất cho phép các điện tử điền đầy một phần hay trống hoàn toàn. - Vùng cấm: Là vùng nằm giữa vùng hóa trị và vùng dẫn, không có mức năng lượng nào do đó điện tử không thể tồn tại trên vùng cấm. Khi kích thích các điện tử ở trong vùng dẫn bằng các bước sóng thích hợp, các điện tử này sẽ nhảy lên các mức năng lượng cao hơn ở vùng hóa trị. Đối với chấm carbon, phổ hấp thụ cung cấp các thông tin về các liên kết có trong CDs.
Sự chuyển mức năng lượng tương ứng với các liên kết được biễu diễn như trên Hình 1. Phổ hấp thụ của CDs thường bao gồm hai vùng chính như thể hiện trong Hình 1. Vùng hấp thụ thứ nhất nằm trong khoảng từ 200 tới 300 nm, có đỉnh hấp thụ ở khoảng 250 nm. Đỉnh hấp thụ này có nguồn gốc do sự chuyển mức năng lượng π → π* của các liên kết C=C và C=O của các mạng liên kết sp2 trong lõi CDs.
Do vậy, tất cả các mẫu CDs đều có đỉnh hấp thụ ở vùng này. Đỉnh hấp thụ thứ hai nằm trong khoảng từ 300 8 tới 400 nm. Đỉnh hấp thụ trong khoảng này tương ứng với chuyển mức năng lượng n → π* của các trạng thái liên kết ở cạnh sp3 hoặc các nhóm chức chứa Oxy và Nito và các nguyên tử này chứa các cặp điện tử không liên kết. Ngoài ra, CDs cũng hấp thụ các bước sóng ở vùng ánh sáng nhìn thấy.
Tuy nhiên, cường độ hấp thụ ở vùng này rất bé và các đỉnh hấp thụ có nguồn gốc từ các nhóm chức phát quang được gắn trên bề mặt CDs trong quá trình chế tạo [85, 118, 129]. Đối với các loại CDs, độ rộng vùng cấm được xác định bằng phương pháp Tauc [75]. Phương pháp này dựa trên mối quan hệ giữa năng lượng của ánh sáng và năng lượng vùng cấm.1) với α (m-1) là hệ số hấp thụ ánh sáng, h (J.s) là hằng số Plank, ν (Hz) là tần số của photon, Eg (eV) là năng lượng vùng cấm, B là hằng số phụ thuộc vào vật liệu và n là hệ số phụ thuộc vào đặc điểm của chuyển mức năng lượng (n = 1/2 với chuyển mức trực tiếp và n = 2 với chuyển mức gián tiếp). Tuy nhiên, trong quá trình chế tạo, thông thường cấu trúc tinh thể của lõi CDs bị ảnh hưởng bởi các liên kết với các nhóm chức trên bề mặt và các sai hỏng trong quá trình chế tạo CDs.
Dẫn tới sự thu hẹp của độ rộng vùng cấm. Đối với các loại CDs, việc đánh giá ảnh hưởng của các sai hỏng tới cấu trúc vùng năng lượng có thể dựa trên mô hình và công thức Urbach [76] (Hình 1. Hệ số hấp thụ ánh sáng được biểu diễn là một hàm của năng lượng: 9 Eg (hv − ) = 0e Eu (1.2) với α là hệ số hấp thụ ánh sáng, α0 là hằng số hấp thụ ánh sáng, Eg là độ rộng vùng cấm và Eu là năng lượng Urbach. Năng lượng Urbach là một thông số cho biết các mức độ sai hỏng của cấu trúc tinh thể vật liệu.
Vật liệu có năng lượng Urbach lớn thí mức độ sai hỏng của cấu trúc tinh thể lớn và ngược lại, vật liệu có năng lượng Urbach nhỏ thì mức độ sai hỏng cấu trúc tinh thể trong vật liệu nhỏ. Miêu tả sự chuyển mức năng lượng [56]. Phổ phát xạ của CDs Sau khi các điện tử được kích thích nhảy lên các mức năng lượng trên vùng dẫn, sau quá trình dịch chuyển không bức xạ. Các điện tử sau khi dịch chuyển xuống mức năng lượng thấp nhất ở vùng dẫn sẽ giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng để quay trở về vùng hóa trị.
Bằng việc sử dụng máy quang phổ huỳnh quang, các bước sóng phát ra của vật liệu sau khi được kích thích sẽ được ghi lại trên phổ phát xạ (PL) của vật liệu. Phổ phát xạ của CDs kéo dài từ vùng cực tím đến vùng ánh sáng nhìn thấy hoặc vùng hồng ngoại với sự xuất hiện của một hoặc nhiều đỉnh phát xạ, như được biểu diễn trong Hình 1. Khi kích thích sự phát quang của CDs bằng nhiều bước sóng khác nhau, các đỉnh phát xạ có thể thay đổi vị trí theo sự thay đổi của bước sóng kích thích (huỳnh quang phụ thuộc vào bước sóng kích thích) như trên Hình 1.5a hoặc giữ 10 nguyên vị trí (huỳnh quang không phụ thuộc vào bước sóng kích thích) như trên Hình 1. Huỳnh quang phụ thuộc vào bước sóng kích thích [132] được giả thuyết gây ra bởi các yếu tố liên quan tới hiệu ứng giam cầm lượng tử và sự hình thành của nhiều mức năng lượng do các khuyết tật và nhóm chức trên bề mặt CDs.
Các yếu tố này gây ra sự tách biệt của các mức năng lượng ở trên vùng dẫn. Khi các điện tử được kích thích quay về trạng thái cơ bản sẽ bị mắc ở các bẫy năng lượng này gây ra sự xuất hiện của các đỉnh phát xạ có bước sóng khác nhau. Kết quả là CDs có sự thay đổi đỉnh phát xạ phụ thuộc vào bước sóng kích thích. Phổ PL miêu tả tính chất (a) huỳnh quang phụ thuộc vào bước sóng kích thích và (b) không phụ thuộc vào bước sóng kích thích [126].