Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và thảo luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm: Nhìn chung các kết quả của nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh từ các nền kinh tế trên thế giới cho thấy rằng có rất nhiều quan điểm trái chiều và hỗn hợp. 1 Nhóm những nghiên cứu thực nghiệm cho rằng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tác động cùng chiều lên hiệu quả hoạt động kinh doanh Roden và Lewellen (1995) kiểm tra cấu trúc vốn của 48 công ty ở Mỹ trong thời gian 1981 – 1990 đã thừa nhận mối tương quan thuận giữa tỷ lệ nợ trên tổng tài sản và mức sinh lợi, kết quả này giống với nghiên cứu của Champion (1999) và Gosh et al. Hadlock và Jame (2002) cho rằng doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao khi có mức tỷ lệ nợ cao, điều này có nghĩa là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tác động cùng chiều lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Berger và Bonaccorsi di Patti (2006) kết luận rằng tỷ lệ nợ được tính bằng tỷ lệ giữa tổng nợ và giá trị sổ sách của tổng tài sản, thì tỷ lệ nợ cao làm giảm chi phí đại diện của vốn cổ phần từ bên ngoài và như vậy làm gia tăng giá trị công ty. Arbabiyan và Safari (2009) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn lên lợi nhuận thực hiện trên 100 công ty niêm yết của Iran từ năm 2001 và 2007. Kết quả cho thấy nợ ngắn hạn và tổng nợ có mối tương quan dương tới ROE, trong khi nợ dài hạn có mối tương quan nghịch với ROE. Funso và Olorunfemi (2010), đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của ngành xăng dầu ở Nigeria.
Dựa trên dữ liệu nghiên cứu gồm 28 quan sát của 4 công ty xăng dầu trong thời kỳ 1999 đến 2005. Tác giả xem xét tác động đòn bẩy nợ (debt on equity ratio) lên hiệu quả kinh doanh được thể hiện qua thu nhập trên một cổ phần (EPS), cổ tức trên một cổ phiếu (DPS). Kết quả nghiên cứu cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thấy có mối quan hệ thuận giữa EPS và DPS đối với tỷ số nợ, kết quả này chứng tỏ rằng tỷ số nợ có mức ý nghĩa cùng chiều với EPS và DPS.2 Nhóm những nghiên cứu thực nghiệm cho rằng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tác động ngược chiều lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ở một phương điện đối lập, có khá nhiều nghiên cứu công bố rằng cấu trúc vốn tác động ngược chiều lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kester (1986) đã tìm ra mối tương quan nghịch giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của các công ty ở Mỹ và Nhật Bản.
Kết quả này giống với các nghiên cứu được thực hiện ở các nước đã phát triển bởi Friend và Lang (1988), Titman và Wessels (1988) cho các công ty ở Mỹ, Rajan và Zingales (1995) cho các nước thuộc nhóm G7 và Wald (1999) cho các nước đã phát triển. Wiwattanakantang (1999) nghiên cứu 270 công ty ở Thái Lan cũng cho rằng cấu trúc vốn tác động ngược chiều lên hiệu quả kinh doanh. Graham (2000) kết luận trong nghiên cứu của mình rằng các công ty lớn và làm ăn có lãi thì tỷ lệ nợ thấp. Booth et al.
(2001) phát triển một nghiên cứu nhằm tìm mối tương quan giữa cấu trúc vốn của nhiều công ty ở các nước có thị trường tài chính khác nhau. Booth et al. (2001) đi đến kết luận rằng các biến có tác động tới việc lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty ở các nước có thị trường tài chính khác nhau là tương tự nhau. Bên cạnh đó, Booth et al.
(2001) cũng kết luận rằng lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều với mức độ sử dụng nợ và quy mô của công ty. Huang và Song (2006) nghiên cứu các công ty của Trung Quốc cũng tìm thấy mối tương quan nghịch giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty. Chiang et al. (2002), Chen (2004), Deesomsak et al.
(2004), Kara at al. (2009) cũng cho thấy các kết quả tương tự. Tian và Zeitun (2007), đã sử dụng dữ liệu của 167 công ty đang niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman ở Jordan trong suốt thời kỳ 1989 – 2003, kết quả cho rằng cấu trúc vốn có quan hệ mật thiết với mức sinh lợi doanh nghiệp và cấu trúc vốn có mức ý nghĩa tương quan nghịch đối với mức sinh lợi công ty trên giá trị sổ sách kế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 toán và trên giá trị thị trường, trong khi đó tỷ số nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ có mức ý nghĩa và tác động ngược chiều lên ROA và Tobin’s Q. Trong các nghiên cứu của mình, Sheeja Sivaprasad (2006), Andreas Stierwald (2009) tìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận và tỷ lệ nợ.
Chakraborty (2010) nghiên cứu các công ty Ấn Độ cũng thừa nhận cấu trúc vốn tác động ngược chiều lên hiệu quả kinh doanh. Pathak (2011) trong nghiên cứu của mình đã nhận thấy rằng đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả kinh doanh, nghiên cứu này không phù hợp với nhiều nghiên cứu thực hiện tại các nước phương Tây nhưng lại phù hợp với một vài nghiên cứu thực hiện ở các nước châu Á. Một lý do quan trọng của kết quả mâu thuẩn này là chi phí vay mượn ở các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển. Abul (2012) trong nghiên cứu của mình về các công ty trong lĩnh vực kỹ thuật ở Pakstan đã cho thấy đòn bẩy tài chính có mối tương quan nghịch với hiệu quả hoạt động đo lường bởi Return on Assets (ROA), Gross Profit Margin (GPM) và Tobin’s Q.
Mối quan hê giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động đo lường bởi Return on Equity (ROE) là nghịch biến nhưng tác động không đáng kể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Nhóm những nghiên cứu thực nghiệm thừa nhận kết luận hỗn hợp Song song với những nghiên cứu cho kết luận rõ ràng là cùng chiều, ngược chiều hay không có tác động về sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, còn có các nghiên cứu đưa các kết luận tác động cùng chiều, ngược chiều và không tác động đan xen nhau trong cùng một nghiên cứu khi thay đổi các thước đo về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Abor đã phát hiện ra có ý nghĩa tương quan thuận giữa tỷ số nợ ngắn hạn trên tài sản (SDA) và ROE, và cho rằng các công ty sử dụng nhiều nợ ngắn hạn trong việc tài trợ cho hoạt động kinh doanh của họ. Mặt khác, nợ ngắn hạn rất được chuộng đối với các công ty tại Ghana, khoảng 85% nợ ngắn hạn trong tổng nợ.
Trong khi đó, những kết quả cũng đã cho thấy có mối quan hệ nghịch giữa tỷ số nợ dài hạn trên tài sản (LDA) và ROE, có tương quan thuận giữa tỷ số nợ trên tài sản (DA) và ROE. Điều này cho biết rằng nợ có tác động đáng kể đến tỷ suất sinh lợi, và kết quả là các công ty kiếm được nhiều tiền khi dựa vào nợ như là một lựa chọn tài trợ chủ yếu cho các hoạt động của công ty. Amjed (2007), đã nghiên cứu thực nghiệm các công ty niêm yết trong ngành dệt may tại Pakistan để tìm ra sự tác động của cấu trúc vốn lên mức sinh lợi. Dữ liệu bao gồm báo cáo tài chính của 100 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi trong giai đoạn 1999-2004.
Mức sinh lợi được đo lường qua chỉ số ROE, cấu trúc vốn là các tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (SDA), nợ dài hạn trên tổng tài sản (LDA) và tổng nợ trên tổng tài sản (DA). Kết quả chỉ ra rằng tỷ số nợ ngắn hạn có ý nghĩa và tương quan thuận với mức sinh lợi. Việc sử dụng nợ ngắn hạn làm giảm bớt chi phí sử dụng vốn, do đó sử dụng nhiều nợ ngắn hạn trong cấu trúc vốn sẽ làm gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, nợ dài hạn thì có ý nghĩa và tác động ngược với nợ ngắn hạn.
Nợ dài hạn làm gia tăng chi phí (kể cả chi phí gián tiếp và trực tiếp), vì thế nợ dài hạn càng cao thì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 mức sinh lợi càng thấp. Kết quả cũng chỉ ra rằng không có mối quan hệ ý nghĩa giữa tổng nợ và ROE. Saeedi và Mahmoodi (2011), nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn lên mức sinh lợi doanh nghiệp, trường hợp đối với các công ty Iran, sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng. Mẫu nghiên cứu gồm 320 công ty đang niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran (Iran) trong giai đoạn 2002-2009.
Các biến bao gồm biến hiệu quả kinh doanh (biến phụ thuộc) được thể hiện qua ROA, ROE, EPS và Tobin’s Q; các biến cấu trúc vốn (biến độc lập) là tỷ số nợ ngắn hạn (STD – Short-term debt on total asset), tỷ số nợ dài hạn (LTD – Long-term debt on total asset), tỷ số nợ (TD – Total debt on total asset. Kết quả nghiên cứu cho thấy EPS và Tobins’Q có ý nghĩa tương quan thuận với cấu trúc vốn, trong khi kết quả lại cho thấy tương quan nghịch giữa cấu trúc vốn và ROA và không có mối quan hệ ý nghĩa giữa ROE và cấu trúc vốn. Abu-Rub (2012), vừa đây đã công bố nghiên cứu dựa trên số liệu của 28 công ty niêm yết tại sàn giao dịch Palestine (PSE) trong thời kỳ 2006 – 2010, bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất với hồi quy bội. Tác giả dùng các chỉ tiêu để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh là ROE, ROA, EPS, tỷ số giá trị vốn hóa thị trường trên giá trị sổ sách của VCSH (MBVR - Market value of equity to the book value of equity) và chỉ số Tobin’s Q như là biến phụ thuộc.
Còn biến độc lập là các biến đo lường cấu trúc vốn như tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (SDTA), tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản (LDTA), tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA) và tỷ số tổng nợ trên VCSH (TDTE). Kết quả nghiên cứu cho thấy mức sinh lợi có tác động tích cực với TDTA, riêng MBVR có mức ý nghĩa với cả TDTA và SDTA.