CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1.1 Tiểu dẫn Cho đến nay, kể cả trên thế giới và trong nước đã có rất nhiều những công trình nổi tiếng của nhiều nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ. Chúng ta không thể quên những tên tuổi đã đi vào lịch sử của ngành ngôn ngữ học như: Ferdernand De Saussure, Bloomfield L, Chomsky N, Hallid ay,. Ở Việt Nam chúng ta cũng có rất nhiều nhà ngôn ngữ mà tên tuổi của họ luôn là những ngọn đuốc sáng dẫn đường cho những thế hệ quan tâm đến lĩnh vực ngôn ngữ học nước nhà như: Ngu yễn Tài Cẩn, Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Ngu yễn Đình Hòe, Cù Đình Tú, Ngu yễn Đức Dân, Hồng Dân, Hồ Lê …v. Trong luận văn này, chúng tôi xin được dựa trên những cơ sở lý luận về từ, ngữ và trường từ vựng mà các học giả nổi tiếng đã dà y công nghiên cứu.
Về từ, ngữ, chúng tôi sẽ vận dụng quan điểm của các nhà ngôn ngữ học như: Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Lưu Vân Lăng, Ngu yễn Tài Cẩn, v.v… Về trường từ vựng, chúng tôi tâm đắc với những nghiên cứu của học giả Đỗ Hữu Châu và Ngu yễn Đức Tồn, Ngu yễn thiện Giáp. Trong phần lý thuyết nà y, chúng tôi xin chia ra làm hai phần chính, đó là lý thuyết về từ, ngữ và lý thu yết về trường từ vựng. Mặc dù không phải là đối tượng mà đề tài luận văn chúng tôi đang kh ảo sát, nhưng 19 chúng tôi sẽ điểm qua lý thu yết về hình vị, vì đó là cơ sở để chúng tôi thực hiện quá trình phân tích cấu tạo từ, ngữ ở chương hai.2 Lý thuyết về hình vị 1.1 Khái niệm Cũng như từ, ngữ, hình vị là đối tượng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu rất nhiều. Các định nghĩa về hình vị dù chưa thật thống nhất, nhưng phần lớn đã có điểm chung.
Sau đây là một số trong những định nghĩa đó: Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa. Đó là bộ phận nhỏ nhất tạo nên từ. [52;260] Hình vị là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất có thể làm thành từ hay bộ phận của từ.Nida [11;65] Hình vị là những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nhỏ nhất (hay tối giản) với dạng chuẩn tối thiểu là một âm tiết tự thân có nghĩa (nghĩa miêu tả hay nghĩa tương liên) có thể chịu tác động của các phương thức tạo từ để tạo ra từ. Theo Richard, Platt & Weber [67;9] Hình vị là hình thái (mang ý nghĩa) lặp đi lặp lại.
nó không thể lại được phân chia thành những hình thái (mang ý nghĩa) nhỏ hơn. Từ đây rút ra kết luận rằng, cái từ mà ta không thể phân chia được nữa, hay là formant, là một hình vị. Bloomfield [14;36] 20 Các định nghĩa trên đây đã giúp chúng ta nhận biết về hình vị với ba đặc điểm chính như sau: - Là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. - Không thể phân chia.
- Có chức năng tạo từ.2 Phân loại Hiện nay, có hai hướng phân loại hình vị trong tiếng Việt. Hầu hết các nhà Việt ngữ học dựa vào đặc trưng tuyến tính để phân loại hình vị thành hình vị tự do và hình vị hạn chế. Hướng thứ hai dựa vào chức năng ngữ nghĩa (tiêu biểu là học giả Đỗ Hữu Châu), cũng chia hình vị ra làm hai loại, đó là hình vị sơ cấp và hình vị thứ cấp. Dù dùng tiêu chí nào đ ể phân loại đi nữa, thì chức năng quan trọng của hình vị vẫn là chức năng tạo từ, và đó là điều mà chúng tôi thực sự quan tâm trong đề tài này.3 Lý thuyết về từ 1.1 Khái niệm Từ rất lâu trong lịch sử ngôn ngữ học, người ta đã nghiên cứu về từ và các bình diện của nó.
Hàng trăm định nghĩa về từ đã được đưa ra, nhưng hầu như chưa có một định nghĩa nào dành được sự tán thành tu yệt đối của các nhà nghiên cứu. Chúng tôi xin thống kê lại một số định nghĩa trong các công trình nghiên cứu đó. Từ mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì đó có địa vị trung tâm trong cơ thể ngôn ngữ. Theo Ferdinand de Saussure [37;4] 21 Từ là kết quả của sự kết nạp một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp các âm tố nhất định, có thể có một công dụng ngữ pháp nhất định.Meillet [37;6] Từ là “hình thái tự do nhỏ nhất”, mà “hình thái tự do” là “bất kì hình thái nào có thể xuất hiện với tính cách một phát ngôn” khác với hình thái ràng buộc vốn “không thể nói riêng môt mình”.
Bloomfield [37;7] Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng. Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức. [53;60-61] Từ là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu. Từ có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định.
Từ là đơn vị đặc biệt quan trọng khi xét tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. [74;22] Từ là những đơn vị của ngôn ngữ có thể tự mình làm thành ngữ đoạn trong câu hay tham gia vào ngữ đoạn với tư cách một phụ ngữ hoặc nối liền hay ngăn cách các ngữ đoạn ấy. [3;16] Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và cấu tạo, [44;31] Đỗ Hữu Châu, khi nghiên cứu về từ trong hệ thống ngôn ngữ, ông đã tổng quát lại các quan điểm đã và đang tồn tại trong lịch sử ngôn ngữ học như sau: 22 Theo Ju.Maxlov, “từ là đơn vị nhỏ nhất tương đối độc lập của ngôn ngữ”. Ông đã tổng kết những cách hiểu khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu về “tính độc lập của từ” với hai ý chính: + Độc lập về vị trí, có khả năng tha y đổi vị trí trong câu; không thể bị tách ra và bị chen vào giữa bằng các từ khác.
+ Độc lập cú pháp, có khả năng một mình làm thành câu tối giản và khả năng có thể đảm nhận các thành phần câu khác nhau. Tính độc lập tương đối của từ lớn hơn tính độc lập của các hình vị thể hiện một cách nhất quán ở sự vắng mặt trong từ đường ranh giới nghiêm ngặt giữa các từ. Cũng có nhà khoa học tuy không phủ định khái niệm từ, nhưng cho rằng khó lòng tìm một định nghĩa từ chung cho tất cả ngôn ngữ. Một số nhà nghiên cứu loại bỏ từ như là một đơn vị ngôn ngữ cần thiết trong các công trình miêu tả ngôn ngữ.
Từ bị xem nhẹ trong chủ nghĩa miêu tả Mỹ, trong ngữ pháp tạo sinh và ngữ nghĩa tạo sinh. Khái niệm thành tố của cấu trúc câu cũng giống như khái niệm hình vị. Từ không phải là một đơn vị tồn tại độc lập mà chỉ là kết quả cải biến của các thành tố (hình vị) của cấu trúc cú pháp. Các nhà ngôn ngữ học người Nga thì chưa bao giờ xem nhẹ từ.
Họ coi từ là đơn vị quan trọng bậc nhất của ngôn ngữ và là một đơn vị nhiều mặt.Vinogradov viết: “với tư cách là tên gọi, với tư cách dẫn xuất sự vật, từ là một vật thể văn hóa- lịch sử”. (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu tu yển tập, 2005) 23 Tiếng Việt của chúng ta là một ngôn ngữ đơn lập, từ không biến đổi hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học và cú pháp trong câu. Trên cơ sở đó, chúng tôi thống nhất quan điểm với định nghĩa từ của tác giả Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống…) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu. [14;29] Nghiên cứu của ông cũng cho thấy: “hình thái tự do nhỏ nhất là từ”.
Như vậy, từ là hình thái có thể được phát âm riêng rẽ (cùng với ý nghĩa), nhưng không thể phân chia thành những bộ phận cũng được dùng một cách riêng rẽ mà độc lập ở trong câu (nhưng vẫn mang ý nghĩa). Điều này giúp chúng ta nhận diện về từ một cách rõ rệt hơn: - Từ có thể một mình làm câu tối giản. - Không thể phân chia từ thành những bộ phận độc lập nhỏ hơn. Từ những quan điểm trên, chúng ta không thể phủ nhận rằng: từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ.2 Phân loại Do xuất phát từ những quan điểm không giống nhau, nên cách phân chia từ của các học giả cũng không thống nhất Tác giả Ngu yễn Chí Hòa cho rằng: Từ đơn là từ chỉ có một hình vị.
24 Có hai loại từ đơn, đó là thực từ và hư từ. Từ ghép là từ có hơn một hình vị, có tính chỉnh thể và thực hiện chức năng của một từ. [36;18] Học giả Lưu Vân Lăng thì lại chia từ ra làm từ nòng cốt và từ phụ gia. [27;27) Ngu yễn Thiện Giáp, sau khi h ệ thống lại những quan niệm về từ và sự phân chia từ theo cách mà nhiều nhà ngôn ngữ học đã từng tuyên bố, ông đã lập một bảng thống kê cho thấy có hai luồng quan niệm về sự phân chia từ: Thứ nhất: từ trùng với âm tiết.
Thứ hai: từ không trùng với âm tiết. [53;175) Căn cứ theo bảng này, chúng ta cũng thấ y được sự khác nhau không chỉ qua cách phân chia, mà còn qua cách gọi tên của từ sau khi chia: Từ đơn - từ kép (Lê Văn Lý, Lưu Vân Lăng) Từ đơn - từ ghép (Ngu yễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tu, Hồ Lê) Từ đơn - từ láy - từ phức (V.Xolntxev) Từ thuần - từ pha - từ phức - từ chắp (Ngu yễn Kim Thản) Riêng từ ghép cũng được phân chia thành: Ghép hợp thành, ghép phụ gia (Hoàng Tuệ). Ghép hợp nghĩa, ghép phân nghĩa (Đỗ Hữu Châu). Những cách phân loại từ như vậy đều xuất phát từ các công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc với chiều dài thời gian và bề dà y tâm huyế t của các nhà Việt ngữ học.
Vì vậ y, ủng hộ quan điểm nào là sự lựa chọn 25 khó khăn đối với những người mới nghiên cứu về ngôn ngữ như chúng tôi.