CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẤP DƯỠNG CHO CON 1. Khái niệm, đặc điểm của cấp dưỡng cho con 1. Khái niệm cấp dưỡng cho con Trong khoa học pháp lý, chế định cấp dưỡng đã có lịch sử tồn tại lâu đời và xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong Luật La Mã cổ, nhà luật học Ul-pian đã cho rằng trẻ em không sống cùng cha mẹ thì cha mẹ phải chu cấp chi phí để nuôi các em.
Ngược lại, khi cha mẹ đã già yếu, con đã lớn phải lo lắng chu cấp cho cha mẹ1. Như vậy, có thể thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con được đặt ra từ rất sớm. Có thể thấy, từ thời La Mã thì luật La Mã đã đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con cái và ngược lại. Hay thậm chí tại Điều 137 Bộ luật Hammurabi của Nhà nước Lưỡng Hà cổ đại đã quy định: “Nếu người chồng muốn bỏ người đàn bà hay người vợ đã sinh con cho y, anh ta phải trả lại cho cô ta toàn bộ của hồi môn (cheriqtou), và giao cho cô ta quyền thu hoa lợi từ cánh đồng vườn cây ăn quả cũng như từ các thứ tài sản khác để cô ta nuôi con.
Theo đó, nếu khi hai vợ chồng không còn muốn chung sống với nhau, giữa hai người không còn tồn tại quan hệ hôn nhân thì việc nuôi con sẽ được giao cho vợ và người chồng sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Lúc này nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ được đặt ra và tài sản mà người chồng cấp dưỡng được thông qua việc giao quyền thu hoa lợi cho vợ. Ở Việt Nam, trong các văn bản luật cổ đã thể hiện rõ tư tưởng về cấp dưỡng, theo Sách Hồng Đức thiện chính thư ghi lại các luật lệ được ban hành dưới triều Lê (1428 - 1788) đã quy định: “Làm người phải coi trọng sự giáo dưỡng, cha hiền con hiếu làm đầu. Làm cha mẹ người ta, phải cấp dưỡng cho cơm áo không nên vì đứa con một buổi sớm dỗi không ăn, mà cha mẹ giận đổ bỏ đi”3.
Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng đã được đặt ra từ rất sớm với hầu hết các quốc gia và trong từng thời kỳ. Thực tế, hiện nay có khá nhiều tài liệu đưa ra khái niệm về cấp dưỡng. Từ điển Luật học Oxford (Vương quốc Anh) định nghĩa cấp dưỡng là “cung cấp thức ăn, quần áo và những thứ cần thiết khác của cuộc sống. Theo đó, vợ chồng cấp dưỡng cho nhau; cha, mẹ cấp dưỡng cho con chưa thành niên chưa kể cha, mẹ có 1 Đ.
Uixtiniana (1997), Luật dân sự La Mã, Matsxcơva, Nxb. Tiến bộ, tr. 2 Nguyễn Anh Tuấn (2008), Khảo lược Bộ luật Hammurabi của Nhà nước Lưỡng Hà cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.
3 Trường Luật khoa Đại học (1959), Hồng Đức Thiện chính thư, Nxb. Nam Hà, tr. 9 kết hôn hay chưa kết hôn”4. Theo Từ điển tiếng Việt “cấp dưỡng là cung cấp cho người già hoặc yếu những thứ cần thiết cho đời sống”5.
Trong khoa học pháp lý, khái niệm cấp dưỡng đã được làm rõ trong nhiều công trình nghiên cứu. Chẳng hạn, có tác giả nhận định cấp dưỡng có thể được hiểu như “việc một người chuyển giao không có đền bù một số tài sản của mình cho một người khác đang sống trong cảnh thiếu thốn, để người này có thể sử dụng, định đoạt các tài sản ấy nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của mình”6. Với khái niệm này có thể hiểu rằng cấp dưỡng là sự chuyển giao tài sản từ người này sang người khác nhằm đáp ứng các điều kiện, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và họ không có nghĩa vụ hoàn trả lại số tài sản đó cho người cấp dưỡng (đền bù). Tuy nhiên, khái niệm này chưa xác định được phạm vi chủ thể tham gia quan hệ cấp dưỡng.
Nếu theo cách hiểu của khái niệm này thì có thể xác định chủ thể của quan hệ cấp dưỡng là toàn bộ mối quan hệ giữa người và người mà không yêu cầu, ràng buộc rằng họ có phải là người thân thích, có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống trong gia đình hay không. Theo nghĩa đó, cấp dưỡng đã mở rộng đến cả các hoạt động mang tính xã hội giữa các cá nhân, tổ chức đối với những người cần được hỗ trợ. Tuy nhiên, khi nhìn nhận cấp dưỡng là một nghĩa vụ pháp lý thì không thể mở rộng phạm vi chủ thể đến tất cả mọi thành viên trong xã hội. Sự mở rộng như vậy có lẽ không phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật HNGĐ.
Hơn nữa, khái niệm này cũng chưa thể hiện được sự ràng buộc pháp lý trong quan hệ cấp dưỡng. Bàn về khái niệm cấp dưỡng, có quan điểm cho rằng “cấp dưỡng là một thuật ngữ pháp lý thể hiện mối quan hệ ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người không sống chung với nhau nhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc bảo đảm cuộc sống cho những người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản hoặc tuy có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống của mình. Cấp dưỡng còn là biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng”7. Với khái niệm này chủ thể của quan hệ cấp dưỡng đã được bó hẹp lại cho phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật HNGĐ, đó là mối quan hệ giữa những người có quan hệ gia đình với nhau mà 4 Oxford University press (1892), Dictionary of law (third edition), tr.
5 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 6 Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
7 Ngô Thị Hường (2005), Chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 hiện tại họ không còn chung sống với nhau hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng. Bên cạnh những quan điểm học thuật cũng như sự làm rõ về mặt ngữ nghĩa trong các tài liệu ngôn ngữ. Luật HNGĐ năm 2014 cũng làm rõ khái niệm về cấp dưỡng tại khoản 24 Điều 3.
Theo đó, cấp dưỡng là “việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật HNGĐ”8. Theo khái niệm này, thành viên trong gia đình – người có đủ khả năng, phải có nghĩa vụ đảm bảo cho người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng với mình sự chu cấp mang yếu tố tài sản trên cơ sở tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định9. Cũng giống như Luật HNGĐ Việt Nam, trong Bộ luật gia đình Philipines cũng ghi nhận khái niệm cấp dưỡng một cách khá rõ nét. Theo Điều 194 Bộ luật Gia đình Philipines năm 1987 thì “cấp dưỡng bao gồm những thứ không thể thiếu đó là thức ăn, chỗ ở, quần áo, chăm sóc y tế, giáo dục và giao thông vận tải, phù hợp với khả năng tài chính của gia đình.
Sự giáo dục của người được cấp dưỡng được quy định trong điều này bao gồm việc học tập và đào tạo một số ngành nghề, kinh tế, nghề nghiệp thậm chí cho tới tuổi trưởng thành. Giao thông vận tải bao gồm các chi phí trong việc đi đến trường và về nhà, hoặc đến và đi từ nơi làm việc”. Đối sánh với Luật HNGĐ năm 2014 thì khái niệm cấp dưỡng của Việt Nam đã xác định rõ được chủ thể, điều kiện cũng như mục đích của cấp dưỡng hơn so với điều luật trên của Bộ luật gia đình Philipines. Nghĩa vụ cấp dưỡng dưới góc độ pháp lý có thể phát sinh giữa các chủ thể là thành viên trong gia đình, trong đó điển hình là nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con.
Thuật ngữ “con” được dùng trong mối quan hệ với “cha, mẹ”. Cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con cũng là một loại nghĩa vụ dân sự, nhưng nghĩa vụ này mang tính nhân văn sâu sắc, gắn liền với nhân thân và phát sinh giữa những chủ thể có quan hệ vô cùng đặc biệt: Những cá nhân là thành viên trong gia đình gắn bó bởi 8 Khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. 9 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), Nxb. Hồng Đức, tr.
11 yếu tố huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Do đó, loại nghĩa vụ này không thể chuyển giao, thay thế hay bù trừ giống như các loại nghĩa vụ dân sự thông thường khác. Trong quan hệ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con, bên thụ hưởng quyền (được cấp dưỡng) là những đối tượng đặc biệt – người chưa thành niên hoặc người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Bên cạnh đó, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con cũng thuộc các trường hợp cấp dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 107 Luật HNGĐ năm 2014.
Theo đó, cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Về mặt đạo đức cũng như pháp luật, cha mẹ phải quan tâm, yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Tuy nhiên, có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà cha mẹ không thể thực hiện nghĩa vụ và quyền này đối với con. Đảm bảo trách nhiệm của cha, mẹ đối với con cũng như bảo vệ quyền lợi của con, pháp luật dự liệu hàng loạt cơ chế pháp lý nhằm đảm bảo quyền được cấp dưỡng của con.
Chẳng hạn, khi cha mẹ ly hôn, pháp luật quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con10. Bên cạnh đó, nghĩa vụ cấp dưỡng này còn được đặt ra khi cha, mẹ bị Toà án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên11.