Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 62 34 02 01) với đề tài "Cảnh báo khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Phượng thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Thị Thiệu Dao.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh thực tiễn giai đoạn 2002–2015 cho thấy nền kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đã bộc lộ nhiều điểm yếu vĩ mô và tính dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Chất lượng tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức thấp, thể hiện qua hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) giai đoạn 2006–2010 là 6,96 và giai đoạn 2011–2015 là 6,92 (trong khi các quốc gia lân cận giai đoạn 2011–2015 có ICOR thấp hơn như Indonesia 3,86; Philippines 4,0; Malaysia 5,1; Lào 4,2; đồng thời ICOR của khu vực kinh tế nhà nước tại Việt Nam cao gấp gần 1,5 lần mức bình quân toàn nền kinh tế). Áp lực lạm phát diễn biến phức tạp, đạt đỉnh 23,12% năm 2008 và 18,68% năm 2011 sau các chu kỳ mở rộng cung tiền và tín dụng (năm 2007 tăng trưởng M2 đạt 49,11% và tăng trưởng tín dụng đạt 50,18%).
Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối của Việt Nam biến động mạnh, năm 2015 đạt 28,3 tỷ USD tương đương 1,9 tháng nhập khẩu, thấp hơn mức khuyến cáo tối thiểu 3 tháng nhập khẩu; thâm hụt ngân sách thường xuyên vượt ngưỡng 5% GDP (năm 2009 đạt 6,9% GDP); nợ nước ngoài trên GNI xấp xỉ 40%. Khu vực ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản khi tỷ lệ tín dụng trên tổng tiền gửi vượt mức 1,0 (giai đoạn 2010–2011 vượt 1,2); tỷ lệ nợ xấu năm 2012 theo đánh giá của Thanh tra Giám sát Ngân hàng Nhà nước lên tới 10% và Fitch Ratings ước tính khoảng 15%, buộc Chính phủ phải ban hành Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011–2015 và thành lập VAMC.
Về mặt học thuật, khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định gồm:
- Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại Việt Nam và trên thế giới chưa từng tích hợp đồng thời bốn cách tiếp cận: Signal, Logit/Probit, Bayesian Model Averaging (BMA) và Two Stage Least Squares (2SLS) trong cùng một hệ thống cảnh báo sớm.
- Các công trình trong nước chưa đưa vào phân tích tác động của các biến số quan trọng như: tỷ giá thực đa phương, chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, tác động lan truyền của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, hiện tượng đô la hóa, chỉ số dễ tổn thương khu vực ngân hàng (BSF) lên khủng hoảng tiền tệ và chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (EMP) lên khủng hoảng hệ thống ngân hàng.
- Thiếu các kiểm định thực nghiệm về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu xây dựng hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ (KHTT) và khủng hoảng hệ thống ngân hàng (KHHTNH) tại Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể được đánh số như sau:
- Xác định các giai đoạn KHTT tại Việt Nam.
- Xác định các giai đoạn KHHTNH tại Việt Nam.
- Xác định mối quan hệ nhân quả giữa KHTT và KHHTNH tại Việt Nam.
- Xác định các chỉ số cảnh báo sớm KHTT tại Việt Nam.
- Xác định các chỉ số cảnh báo sớm KHHTNH tại Việt Nam.
Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Việt Nam đã xảy ra KHTT trong giai đoạn nào?
- Việt Nam đã xảy ra KHHTNH trong giai đoạn nào?
- Giữa KHTT và KHHTNH tại Việt Nam có tồn tại mối quan hệ nhân quả hay không?
- Các chỉ số kinh tế vĩ mô nào có khả năng cảnh báo sớm KHTT tại Việt Nam?
- Các chỉ số kinh tế vĩ mô nào có khả năng cảnh báo sớm KHHTNH tại Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cảnh báo sớm KHTT và KHHTNH tại Việt Nam dưới góc độ kinh tế vĩ mô.
- Phạm vi không gian: Hệ thống tài chính - tiền tệ và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Mẫu nghiên cứu chính (trong mẫu) từ tháng 01/2002 đến tháng 12/2015 theo dữ liệu chuỗi thời gian hàng tháng (mốc 2002 được chọn do chuỗi dữ liệu tăng trưởng chỉ số giá chứng khoán tổng hợp của Việt Nam bắt đầu có đầy đủ từ thời điểm này). Ngoài ra, luận án mở rộng tính toán chuỗi xác suất ngoài mẫu giai đoạn tháng 01/2016 đến tháng 12/2016 với cửa sổ cảnh báo 24 tháng nhằm dự báo rủi ro cho giai đoạn 2017–2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước về hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tài chính theo từng nhóm phương pháp:
| Phương pháp | Các công trình quốc tế được điểm lại |
|---|---|
| Mô hình Signal | Kaminsky, Lizondo & Reinhart (1998); Edison (2003); Megersa & Cassimon (2013) trong KHTT; Borio & Lowe (2002); Borio & Drehmann (2009); Alessi & Detken (2011); Drehmann & Juselius (2013); Drehmann & Tsatsaronis (2014) trong KHHTNH; Kaminsky & Reinhart (1999); Goldstein, Kaminsky & Reinhart (2000); Sun & Huang (2016) trong cả hai loại khủng hoảng. |
| Mô hình Logit/Probit | Berg & Pattillo (1999); Kamin, Schindler & Samuel (2001); Ari (2012); Rahman & Hasan (2014); Frost & Saiki (2014); Comelli (2016) trong KHTT; Demirgüç-Kunt & Detragiache (1998); Eichengreen & Rose (1998); Eichengreen & Arteta (2000); Singh (2011); Hmili & Bouraoui (2015); Tamadonejad & ctg (2016); Papadopoulos, Stavroulias & Sager (2016) trong KHHTNH; Glick & Hutchison (1999); Yiu, Ho & Jin (2009); Falcetti & Tudela (2008); Frankel & Saravelos (2012) trong cả hai loại khủng hoảng. |
| Phương pháp BMA | Crespo-Cuaresma & Slacik (2009); Hosni (2014); Babecký & ctg (2014). |
| Phương pháp 2SLS | Dreher, Herz & Karb (2005); Dapontas (2011). |
| Phương pháp khác | Markov-Switching: Martinez-Peria (2002); Abiad (2003); Ho (2004). Mạng nơ-ron nhân tạo (ANNs): Franck & Schmied (2003); Roy (2009); Sekmen & Kurkcu (2014). Mô hình Neuro-Fuzzy: Lin & ctg (2006). |
| Kết hợp phương pháp | Comelli (2013); Modekurti (2015); Boonman & ctg (2017) (Signal & Logit); Candelon, Dumitrescu & Hurlin (2012) (Logit & Markov-Switching); Davis & Karim (2008b); Lainà, Nyholm & Sarlin (2014) (Signal & Logit); Asanović (2013) (Logit & BMA); ADB (2005) (Signal & Logit/Probit); Giovanis (2012) (Logit/Probit & Neuro-Fuzzy). |
Các nghiên cứu tại Việt Nam được tác giả tổng thuật bao gồm:
- Hướng nghiên cứu cảnh báo KHTT: Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2010), Nguyễn Phi Lân (2011), Nguyễn Việt Hùng & Hà Quỳnh Hoa (2011), Pham (2015), Lê Thị Thùy Vân (2015), Võ Thị Thúy Anh & ctg (2016), Nguyen & Nguyen (2017), Pham (2017).
- Hướng nghiên cứu cảnh báo đồng thời KHTT và KHHTNH: Nguyễn Thị Kim Thanh (2008), Ngô Thị Thu Trà & ctg (2016).
Vị trí của luận án được xác lập thông qua việc khắc phục các hạn chế của những nghiên cứu trước: kết hợp bốn phương pháp (Signal, Logit/Probit, BMA, 2SLS) nhằm tận dụng ưu thế chọn lọc biến số của BMA, khả năng cảnh báo ngưỡng của Signal, ước lượng xác suất định lượng của Probit và xử lý tương tác nội sinh hai chiều của 2SLS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết về khủng hoảng tài chính, định nghĩa khủng hoảng và bốn thế hệ mô hình khủng hoảng tiền tệ:
- Thế hệ thứ nhất (Krugman, 1979; Flood & Garber, 1984): Giải thích KHTT bắt nguồn từ sự mâu thuẫn giữa việc duy trì tỷ giá cố định với việc thực thi chính sách tài khóa thâm hụt kéo dài buộc phải tiền tệ hóa nợ công, làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối và dẫn đến các cuộc tấn công đầu cơ.
- Thế hệ thứ hai (Obstfeld, 1994, 1996): Nhấn mạnh tính chất tự phát sinh (self-fulfilling), yếu tố kỳ vọng của thị trường và hành vi bầy đàn khi chính phủ cân nhắc giữa chi phí bảo vệ tỷ giá (lãi suất cao làm suy giảm tăng trưởng, tăng thất nghiệp) và chi phí từ bỏ neo tỷ giá.
- Thế hệ thứ ba (Yoshitomi & Ohno, 1999; Kaminsky & Reinhart, 1999; Chang & Velasco, 1998; Krugman, 2003): Gắn với khủng hoảng tài khoản vốn, tự do hóa tài chính vội vã, sự bùng nổ tín dụng tạo bong bóng giá tài sản, cùng hiện tượng bất cân xứng kỳ hạn và loại tiền tệ trên bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại dẫn đến khủng hoảng kép (twin crises).
- Thế hệ thứ tư (Breuer, 2004): Bổ sung vai trò của các yếu tố thể chế, chất lượng quản trị công, khung pháp lý và quy định an toàn tài chính bên cạnh các biến số tảng nền vĩ mô.
Về định nghĩa hoạt động:
- Khủng hoảng tiền tệ: Tình trạng đồng nội tệ mất giá nhanh chóng trong thời gian ngắn hoặc khi cơ quan quản lý phải can thiệp bảo vệ đồng nội tệ thông qua việc nâng lãi suất hoặc bán ra một lượng lớn dự trữ ngoại hối (Frankel & Rose, 1996; Kaminsky, Lizondo & Reinhart, 1998; Goldstein, Kaminsky & Reinhart, 2000).
- Khủng hoảng hệ thống ngân hàng: Tình trạng khu vực ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản diện rộng, tỷ lệ nợ xấu tăng cao vượt ngưỡng an toàn (thường >10%), các tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán buộc nhà nước phải can thiệp tái cấu trúc, sáp nhập, hỗ trợ thanh khoản quy mô lớn (Demirgüç-Kunt & Detragiache, 1998; Ergrungor & Thomson, 2005).
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Luận án sử dụng quy trình phân tích định lượng kết hợp nhiều kỹ thuật kinh tế lượng:
- Xác định giai đoạn KHTT: Ứng dụng chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (EMP - Exchange Market Pressure) được xây dựng dựa trên sự biến động của tỷ giá hối đoái và thay đổi trong dự trữ ngoại hối.
- Xác định giai đoạn KHHTNH: Sử dụng chỉ số dễ tổn thương của khu vực ngân hàng (BSF - Banking Sector Fragility) kết hợp đối chiếu phương pháp sự kiện (các can thiệp tái cấu trúc, sáp nhập ngân hàng, thành lập VAMC theo Quyết định 254/QĐ-TTg).
- Kiểm định mối quan hệ nhân quả: Ứng dụng mô hình tự hồi quy vector (VAR), kiểm định nghiệm đơn vị (ADF, PP), xác định độ trễ tối ưu, kiểm định tính ổn định của mô hình và kiểm định nhân quả Granger (Pairwise Granger Causality Tests, VAR Granger Causality/Block Exogeneity Wald Tests) giữa chỉ số EMP và chỉ số BSF.
- Mô hình Signal (Tín hiệu): Xác định ngưỡng tối ưu cho từng biến số cảnh báo dựa trên tiêu chí tối thiểu hóa tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu (noise-to-signal ratio), xây dựng chỉ số cảnh báo tổng hợp và tính chuỗi xác suất xảy ra khủng hoảng có điều kiện.
- Mô hình Logit/Probit: Ước lượng xác suất xảy ra khủng hoảng theo dạng biến phụ thuộc nhị phân, đánh giá tỷ lệ dự báo đúng và kiểm định mức độ phù hợp của mô hình bằng kiểm định Hosmer-Lemeshow.
- Phương pháp BMA (Bayesian Model Averaging): Xử lý tính bất định của mô hình bằng cách ước lượng trên toàn bộ không gian mô hình khả dĩ, xếp hạng các biến số kinh tế vĩ mô dựa trên xác suất hậu nghiệm thu nhận (PIP - Posterior Inclusion Probability) rút ra từ 100 mô hình tốt nhất.
- Phương pháp 2SLS (Two Stage Least Squares): Ước lượng hệ phương trình đồng thời nhằm xử lý hiện tượng nội sinh giữa khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng.
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp dạng chuỗi thời gian theo tháng (tháng 01/2002 đến tháng 12/2015 cho phân tích trong mẫu và đến tháng 12/2016 cho ngoài mẫu) được thu thập từ:
- Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
- Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới.
- Dữ liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
- Niên giám và báo cáo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO).
- Báo cáo thường niên và số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).
- Số liệu của Bộ Tài chính Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể, phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2002–2015 qua hệ thống dữ liệu thống kê:
| Năm | Tăng trưởng GDP (%) | Lạm phát (%) | Tăng trưởng M2 (%) | Tăng trưởng tín dụng (%) | Dự trữ ngoại hối (Tỷ USD) | Số tháng nhập khẩu | Thâm hụt ngân sách / GDP (%) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2002 | 6,32 | 3,83 | 13,27 | 25,48 | 4,1 | 2,2 | 4,96 |
| 2003 | 6,90 | 3,22 | 33,05 | 32,07 | 6,2 | 2,7 | 4,90 |
| 2004 | 7,54 | 7,76 | 31,05 | 37,14 | 7,0 | 2,4 | 4,85 |
| 2005 | 7,55 | 8,28 | 30,91 | 34,74 | 9,0 | 2,6 | 4,86 |
| 2006 | 6,98 | 7,39 | 29,67 | 24,72 | 13,3 | 3,2 | 5,00 |
| 2007 | 7,13 | 8,30 | 49,11 | 50,18 | 23,5 | 4,1 | 6,00 |
| 2008 | 5,66 | 23,12 | 20,70 | 27,71 | 23,9 | 3,2 | 4,58 |
| 2009 | 5,40 | 7,05 | 26,23 | 45,62 | 16,4 | 2,6 | 6,90 |
| 2010 | 6,42 | 8,86 | 29,71 | 31,86 | 12,5 | 1,6 | 6,20 |
| 2011 | 6,24 | 18,68 | 11,94 | 13,85 | 13,5 | 1,4 | 4,90 |
| 2012 | 5,25 | 9,09 | 24,54 | 21,53 | 25,6 | 2,5 | 5,20 |
| 2013 | 5,42 | 6,59 | 21,40 | 4,16 | 25,9 | 2,2 | 6,60 |
| 2014 | 5,98 | 4,09 | 19,74 | 15,57 | 34,2 | 2,5 | 5,70 |
| 2015 | 6,68 | 0,63 | 14,91 | 17,00 | 28,3 | 1,9 | 6,00 |
Tác giả chỉ ra rằng dòng vốn ngoại đổ vào lớn năm 2007 (FDI giải ngân và vốn gián tiếp đạt 17,7 tỷ USD) khiến NHNN mua ròng 10,2 tỷ USD để ổn định tỷ giá, bơm một lượng lớn tiền đồng ra lưu thông làm cung tiền và tín dụng bùng nổ, tạo bong bóng chứng khoán và bất động sản, đẩy lạm phát lên 23,12% năm 2008.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cảnh báo khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng
Chương 2 thực hiện hệ thống hóa lý luận về:
- Các định nghĩa KHTT và KHHTNH trong tài liệu học thuật quốc tế.
- Bốn thế hệ mô hình KHTT và cơ chế truyền dẫn qua các kênh: tài khoản vãng lai, tài khoản vốn, bảng cân đối tài sản ngân hàng và yếu tố thể chế.
- Cơ sở khoa học của các hệ thống cảnh báo sớm, nhóm chỉ số kinh tế trong nước và quốc tế.
- Đánh giá chi tiết ưu điểm và hạn chế của các phương pháp ước lượng: Signal (trực quan nhưng thiếu kiểm định thống kê), Logit/Probit (cho xác suất định lượng nhưng dễ gặp hiện tượng đa cộng tuyến khi nhiều biến), BMA (giải quyết bất định mô hình), 2SLS (xử lý quan hệ hai chiều), Markov-Switching, ANNs và Neuro-Fuzzy.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình tính toán các chỉ số và mô hình:
- Công thức xây dựng chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (EMP) cho Việt Nam: $$EMP_t = \frac{\Delta e_t}{e_t} - \frac{\sigma_e}{\sigma_r} \frac{\Delta r_t}{r_t}$$ Trong đó $e_t$ là tỷ giá danh nghĩa USD/VND, $r_t$ là dự trữ ngoại hối, $\sigma_e$ và $\sigma_r$ là độ lệch chuẩn tương ứng. Ngưỡng khủng hoảng được xác định khi chỉ số EMP vượt giá trị trung bình cộng 1,5 hoặc 2 lần độ lệch chuẩn.
- Xác định chỉ số dễ tổn thương khu vực ngân hàng (BSF) dựa trên các cấu phần thanh khoản, tỷ lệ tín dụng/tiền gửi và tăng trưởng tài sản, kết hợp sự kiện can thiệp theo Quyết định 254/QĐ-TTg.
- Danh mục các chỉ số cảnh báo tiềm năng được phân thành các nhóm: nhóm tiền tệ (M2/dự trữ ngoại hối, số nhân tiền M2, cung tiền), nhóm đối ngoại (tỷ giá thực đa phương, xuất khẩu, nhập khẩu, dự trữ ngoại hối, chênh lệch lãi suất), nhóm khu vực thực (sản lượng công nghiệp, lạm phát), nhóm tài chính - ngân hàng (chỉ số giá chứng khoán, tín dụng/GDP, tiền gửi ngân hàng, tỷ lệ cho vay/tiền gửi, mức độ đô la hóa FCD/M2) và biến giả khủng hoảng toàn cầu 2008.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm cốt lõi:
- Giai đoạn khủng hoảng tại Việt Nam:
- Khủng hoảng tiền tệ: Luận án xác định Việt Nam đã xảy ra các cuộc KHTT ngắn hạn trong giai đoạn 2008–2011 (tập trung tại các thời điểm áp lực phá giá tiền tệ và sụt giảm dự trữ ngoại hối mạnh năm 2008, 2009 và 2011).
- Khủng hoảng hệ thống ngân hàng: Xác định hai giai đoạn gồm tháng 01/2009 – tháng 05/2009 và tháng 05/2011 – tháng 12/2015.
- Kiểm định quan hệ nhân quả Granger: Kết quả kiểm định Pairwise Granger Causality và VAR Granger Causality/Block Exogeneity Wald Tests khẳng định tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa chỉ số EMP (đại diện KHTT) và chỉ số BSF (đại diện KHHTNH).
- Hiệu suất của các biến số cảnh báo sớm:
- Mô hình cảnh báo KHTT: Xác định 11 biến số đạt hiệu suất cao gồm: Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, Tỷ giá thực đa phương, Xuất khẩu, M2/Dự trữ ngoại hối, Tiền gửi ngân hàng, Dự trữ ngoại hối, Số nhân cung tiền M2, Chỉ số BSF, Chênh lệch lãi suất trong nước và nước ngoài, Tỷ lệ đô la hóa (FCD/M2), và Biến tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
- Mô hình cảnh báo KHHTNH: Xác định 15 biến số đạt hiệu suất cao gồm: Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, Tỷ giá thực đa phương, Xuất khẩu, M2/Dự trữ ngoại hối, Tiền gửi ngân hàng, Dự trữ ngoại hối, Số nhân cung tiền M2, Tín dụng nội địa/GDP, Lạm phát, Lãi suất thực, Chỉ số EMP, Sản lượng công nghiệp, Nhập khẩu, Tỷ lệ cho vay/Tổng tiền gửi, và Biến tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
- 8 biến số chung có khả năng cảnh báo sớm cho cả hai loại khủng hoảng: Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, Tỷ giá thực đa phương, Xuất khẩu, M2/Dự trữ ngoại hối, Tiền gửi ngân hàng, Dự trữ ngoại hối, Số nhân cung tiền M2, và Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
- Kết quả tính toán chuỗi xác suất cảnh báo:
- Trong mẫu (2014–2015): Xác suất cảnh báo KHTT dao động từ 0 đến 0,46; xác suất cảnh báo KHHTNH dao động từ 0,1 đến 0,46.
- Ngoài mẫu (tháng 01/2016 – tháng 12/2016): Xác suất cảnh báo KHTT dao động từ 0,1 đến 0,33; xác suất cảnh báo KHHTNH dao động từ 0,1 đến 0,40.
- Dự báo cho giai đoạn 2017–2018: Khả năng xảy ra KHTT và KHHTNH tại Việt Nam nằm ở mức trung bình thấp.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết kết quả kiểm định giả thuyết, trình bày các đóng góp mới và kiến nghị hệ thống giải pháp:
- Nhóm giải pháp điều hành vĩ mô: Điều hành tỷ giá thực linh hoạt; kiểm soát tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng; tăng cường quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước; kiềm chế lạm phát; phát triển bền vững thị trường chứng khoán; thúc đẩy xuất khẩu và quản lý nhập siêu; giảm thiểu tình trạng đô la hóa nền kinh tế.
- Nhóm giải pháp an toàn hệ thống ngân hàng: Đảm bảo thanh khoản cho các NHTM, kiểm soát tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi; nâng cao năng lực huy động vốn và hạn chế rủi ro rút tiền gửi hàng loạt; hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt học thuật và lý luận
- Luận án là công trình thực nghiệm đầu tiên tích hợp đồng thời bốn cách tiếp cận Signal, Logit/Probit, BMA và 2SLS trong nghiên cứu cảnh báo sớm KHTT và KHHTNH, chứng minh việc tích hợp này giúp tận dụng ưu điểm của từng phương pháp và nâng cao độ tin cậy của mô hình cảnh báo.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của hiện tượng đô la hóa đối với khả năng xảy ra KHTT tại nền kinh tế mới nổi quy mô nhỏ, có độ mở cao như Việt Nam.
- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa KHTT và KHHTNH: áp lực trên thị trường ngoại hối (EMP) làm tăng khả năng khủng hoảng hệ thống ngân hàng, và tính dễ tổn thương của khu vực ngân hàng (BSF) tác động làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng tiền tệ.
- Làm rõ vai trò truyền dẫn của cú sốc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến xác suất xảy ra KHTT và KHHTNH tại các quốc gia đang phát triển.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xác định chính xác các giai đoạn KHTT (ngắn hạn trong 2008–2011) và KHHTNH (tháng 01/2009 – 05/2009 và tháng 05/2011 – 12/2015) tại Việt Nam.
- Định lượng danh mục 11 chỉ số cảnh báo KHTT, 15 chỉ số cảnh báo KHHTNH và bộ 8 chỉ số cảnh báo chung có hiệu suất cao nhất.
- Xây dựng chuỗi xác suất cảnh báo trong mẫu (2002–2015) và ngoài mẫu (2016) với khung thời gian cảnh báo 24 tháng, đưa ra dự báo xác suất rủi ro giai đoạn 2017–2018 ở mức trung bình thấp.
- Đề xuất các khuyến nghị chính sách cụ thể cho Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ trong công tác giám sát an toàn vĩ mô, điều hành chính sách tiền tệ và quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung phân tích dưới góc độ kinh tế vĩ mô trên dữ liệu chuỗi thời gian toàn hệ thống, mốc thời gian bắt đầu từ năm 2002 do hạn chế về chuỗi dữ liệu thị trường chứng khoán; chưa kết hợp phân tích sâu các chỉ tiêu vi mô theo khung CAMELS ở cấp độ từng ngân hàng thương mại do giới hạn tiếp cận số liệu tần suất cao.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng chuỗi dữ liệu thời gian sang các năm tiếp theo; kết hợp đồng thời mô hình cảnh báo vĩ mô với mô hình cảnh báo vi mô dựa trên dữ liệu bảng của từng ngân hàng; nghiên cứu thử nghiệm bổ sung các kỹ thuật học máy nâng cao như mạng nơ-ron nhân tạo (ANNs) hoặc hệ mờ nơ-ron (Neuro-Fuzzy).
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia): Cung cấp khung công cụ định lượng hỗ trợ xây dựng hệ thống giám sát an toàn vĩ mô, theo dõi các chỉ số cảnh báo sớm (đặc biệt là M2/dự trữ ngoại hối, tỷ giá thực đa phương, tỷ lệ cho vay/tiền gửi) để có biện pháp can thiệp kịp thời.
- Đối với các ngân hàng thương mại: Là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng khung quản trị rủi ro thanh khoản, kiểm soát tăng trưởng tín dụng và dự báo biến động lãi suất, tỷ giá.
- Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp luận kết hợp BMA, 2SLS, Signal và Probit trong phân tích rủi ro tài chính hệ thống.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng nào?
Luận án xác định Việt Nam xảy ra các đợt khủng hoảng tiền tệ ngắn hạn trong giai đoạn 2008–2011 thông qua chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (EMP). Đối với khủng hoảng hệ thống ngân hàng, luận án xác định hai giai đoạn: tháng 01/2009 – tháng 05/2009 và tháng 05/2011 – tháng 12/2015 thông qua chỉ số dễ tổn thương khu vực ngân hàng (BSF) kết hợp phương pháp sự kiện.
2. Giữa khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam có mối quan hệ nhân quả không?
Kết quả kiểm định nhân quả Granger trong mô hình VAR khẳng định tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều: chỉ số EMP tác động làm tăng nguy cơ xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng, và chỉ số BSF tác động trực tiếp làm tăng nguy cơ khủng hoảng tiền tệ.
3. Có những biến số kinh tế vĩ mô nào vừa cảnh báo được khủng hoảng tiền tệ vừa cảnh báo được khủng hoảng ngân hàng tại Việt Nam?
Luận án chỉ ra 8 biến số đạt hiệu suất cao cho cả hai mô hình gồm: (1) Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp, (2) Tỷ giá thực đa phương, (3) Xuất khẩu, (4) Cung tiền M2/Dự trữ ngoại hối, (5) Tiền gửi ngân hàng, (6) Dự trữ ngoại hối, (7) Số nhân cung tiền M2, và (8) Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
4. Xác suất xảy ra khủng hoảng tiền tệ và ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2017–2018 được dự báo ở mức nào?
Dựa trên chuỗi xác suất ngoài mẫu năm 2016 (dao động từ 0,1 đến 0,33 đối với KHTT và từ 0,1 đến 0,4 đối với KHHTNH với cửa sổ cảnh báo 24 tháng), luận án dự báo khả năng xảy ra KHTT và KHHTNH tại Việt Nam giai đoạn 2017–2018 ở mức trung bình thấp.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Phượng là công trình nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2002–2015. Bằng việc kết hợp bốn phương pháp Signal, Probit, BMA và 2SLS, luận án đã xác định các giai đoạn khủng hoảng thực tế, chứng minh mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hai loại khủng hoảng và lượng hóa danh mục các chỉ số kinh tế vĩ mô có năng lực cảnh báo cao nhất. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm phục vụ công tác điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá và quản trị an toàn hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.