Luận án tiến sĩ y tế công cộng can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp giai đoạn 2015 2019

Luận án tiến sĩ y tế công cộng nghiên cứu can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2015-2019.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

190
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm

1.2. Dịch tễ học đuối nước

1.3. Các giải pháp phòng chống đuối nước

1.4. Mô hình dạy bơi an toàn cho trẻ. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu

2.5. Các bước tiến hành nghiên cứu (PL 4. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Các biến số nghiên cứu (phụ lục 7)

2.7. Khái niệm và thang đánh giá

2.8. Phương pháp phân tích số liệu

2.9. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ về vấn đề phòng chống đuối nước trẻ em

Phụ lục 2: Hướng dẫn Phỏng vấn sâu

Phụ lục 3: Các chỉ số đánh giá trong nghiên cứu

Phụ lục 4: Triển khai can thiệp dạy bơi an toàn cho học sinh tiểu học

Phụ lục 5: Tài liệu truyền thông về phòng chống đuối nước

Phụ lục 6: Thang đánh giá kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ và kỹ năng bơi của học sinh

Phụ lục 7: Các biến số trong nghiên cứu

Phụ lục 8: Một số hình ảnh triển khai nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về vấn đề đuối nước ở trẻ em

Đuối nước là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, đặc biệt tại các khu vực có hệ thống sông ngòi phức tạp như Đồng bằng sông Cửu Long. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 236.000 người tử vong do đuối nước, trong đó trẻ em từ 5-14 tuổi là nhóm có nguy cơ cao nhất. Tại Việt Nam, đuối nước chiếm tỷ lệ lớn trong các tai nạn thương tích ở trẻ em, với Đồng Tháp là một trong những tỉnh có tỷ lệ đuối nước cao. Nguyên nhân chính dẫn đến đuối nước là thiếu sự giám sát của người lớn và trẻ không biết bơi.

1.1. Dịch tễ học đuối nước trên thế giới và Việt Nam

Theo nghiên cứu của WHO, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong thứ ba trong các tai nạn thương tích, với hơn 90% trường hợp xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đuối nước ở trẻ em thường xảy ra vào ban ngày, đặc biệt là buổi sáng, và hầu hết các trường hợp xảy ra ở khu vực không có biển cảnh báo hoặc rào chắn. Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hưng chỉ ra rằng 80% trường hợp đuối nước là do thiếu sự giám sát của người lớn.

1.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân chính dẫn đến đuối nước ở trẻ em bao gồm thiếu sự giám sát của người lớn, trẻ không biết bơi, và tiếp xúc với các nguồn nước mở như sông, hồ, kênh rạch. Nghiên cứu tại BangladeshTrung Quốc cũng chỉ ra rằng trẻ em ở vùng nông thôn có nguy cơ đuối nước cao hơn do tiếp xúc thường xuyên với các nguồn nước tự nhiên. Giáo dục phòng chống đuối nướcdạy bơi an toàn được xem là những giải pháp hiệu quả để giảm thiểu nguy cơ này.

II. Can thiệp phòng chống đuối nước tại Cao Lãnh Đồng Tháp

Nghiên cứu này tập trung vào việc triển khai chương trình can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2015-2019. Mục tiêu chính là nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh, giáo viên và người chăm sóc trẻ. Chương trình bao gồm các hoạt động như dạy bơi an toàn, truyền thông thay đổi hành vi, và xây dựng cơ sở vật chất như bể bơi và hàng rào bảo vệ.

2.1. Mô hình dạy bơi an toàn

Chương trình dạy bơi an toàn được triển khai tại 5 trường tiểu học ở Cao Lãnh, với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống chấn thươngTrường Đại học Johns Hopkins. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh biết bơi tăng đáng kể sau can thiệp, từ 42% lên 76%. Điều này chứng minh hiệu quả của việc tích hợp giáo dục phòng chống đuối nước vào chương trình học tại trường.

2.2. Truyền thông và giáo dục cộng đồng

Các hoạt động truyền thông được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ đuối nước và các biện pháp phòng ngừa. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc cung cấp thông tin và tài liệu giáo dục cho người chăm sóc trẻ đã giúp cải thiện đáng kể kiến thức và thực hành phòng chống đuối nước. Giáo dục an toàn nước được xem là yếu tố then chốt trong việc giảm thiểu nguy cơ đuối nước ở trẻ em.

III. Kết quả và đánh giá chương trình can thiệp

Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình can thiệp đã đạt được những thành công đáng kể trong việc giảm thiểu nguy cơ đuối nước ở học sinh tiểu học tại Cao Lãnh. Tỷ lệ học sinh biết bơi tăng từ 42% lên 76%, và kiến thức về phòng chống đuối nước của người chăm sóc trẻ cũng được cải thiện đáng kể. Chương trình đã chứng minh được tính khả thi và hiệu quả trong việc áp dụng các giải pháp phòng chống đuối nước tại cộng đồng.

3.1. Đánh giá hiệu quả của chương trình

Chương trình can thiệp đã được đánh giá thông qua việc đo lường sự thay đổi về kiến thức, thái độ và thực hành của người chăm sóc trẻ, cũng như kỹ năng bơi của học sinh. Kết quả cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong cả hai nhóm đối tượng, đặc biệt là tỷ lệ học sinh biết bơi tăng đáng kể. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục phòng chống đuối nước vào chương trình học tại trường.

3.2. Những thách thức và bài học kinh nghiệm

Mặc dù chương trình đạt được nhiều thành công, vẫn còn một số thách thức như thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực để duy trì các hoạt động dạy bơi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc huy động sự tham gia của cộng đồng và chính quyền địa phương là yếu tố then chốt để đảm bảo tính bền vững của chương trình. Can thiệp cộng đồngphối hợp đa ngành được xem là những giải pháp quan trọng để duy trì hiệu quả của chương trình trong tương lai.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y tế công cộng can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp giai đoạn 2015 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Trẻ em: Theo Luật trẻ em của Quốc hội (Luật số: 102/2016/QH13) trẻ em là người dưới 16 tuổi (19),(20). Người chăm sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc thay thế hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em (20). Đuối nước là một sự kiện xảy ra khi đường hô hấp của nạn nhân bị ngập trong một môi trường chất lỏng, dẫn tới khó thở hoặc nghẹt thở, sự kiện này có thể dẫn tới tử vong hoặc không tử vong (21).

Tai nạn thương tích thường được chia thành hai nhóm là tai nạn thương tích không có chủ định và tai nạn thương tích có chủ định. Các nguyên nhân gây ra tai nạn thương tích bao gồm: tai nạn giao thông, đuối nước, điện giật, ngã, bỏng, động vật cắn, vật sắc nhọn, vật tù/vật rơi, ngộ độc, ngạt thở, tự tử, đánh nhau/hành hung, bom mìn và các vật nổ. Dịch tễ học đuối nước 1. Đuối nước trên Thế giới Năm 2019, báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới ước tính hàng năm có khoảng 236.000 người tử vong do đuối nước, chiếm gần 8% tổng số các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích trên toàn cầu, đuối nước là nguyên nhân cao thứ 3 trong số các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích gây ra và có trên 90% tử vong do đuối nước xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (1).

Riêng ở khu vực Tây Thái Bình Dương, trẻ em ở độ tuổi từ 5 – 14 tuổi tử vong do đuối nước đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích gây ra (21),(23),(24). 5 Biểu đồ 1: Tỷ suất đuối nước trên 100.000 dân/năm ở các khu vực (22). Biểu đồ 1 cho thấy, tỷ suất đuối nước ở khu vực Châu Phi chiếm cao nhất (7,9/100.000 dân/năm), kế đến là Đông Nam Á (7,6/100.000 dân/năm), thấp nhất là Châu Mỹ (3/100. Biểu đồ 2: Xếp hạng 10 nguyên nhân gây tử vong, trong đó đuối nước là nguyên nhân hàng đầu tại các khu vực của WHO (22).

Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong so với các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích gây ra, số liệu báo cáo của WHO (biểu đồ 2) cho 6 thấy trong các nhóm tuổi tử vong do đuối nước ở các khu vực trên Thế giới thì nhóm tuổi tử vong do đuối nước chiếm cao nhất là ở hai nhóm tuổi từ 5 – 9 tuổi và nhóm từ 10 – 14 tuổi. Cụ thể ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, tử vong do đuối nước đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây tử vong là ở hai nhóm tuổi này (5 – 9 tuổi và 10 – 14 tuổi). Tiếp theo là khu vực Đông Nam Á, thì nhóm tuổi từ 10 – 14 tuổi bị tử vong do đuối nước đứng hàng thứ hai và nhóm tuổi từ 5 – 9 tuổi đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích (22). Nghiên cứu của Wu Y và cộng sự năm 2017 phân tích cơ sở dữ liệu của WHO về tử vong trẻ em và vị thành niên do đuối nước từ năm 2000 đến 2013 tại 21 quốc gia.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đuối nước ở các nguồn nước tự nhiên là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em và vị thành niên ở Ba Lan (56-92%), Cu Ba (53-81%), Venezuela (43-56%) và Nhật Bản (39-60%). Trong khi đuối nước ở bể bơi và bồn tắm thì phổ biến ở Mỹ (26-37%) và Nhật Bản (28-39%) (25). Nghiên cứu của Adnan A Hyder (2007), giám sát thương tích không chủ ý ở trẻ em dưới 11 tuổi tại 4 thành phố ở các nước đang phát triển cho thấy, trong số 20 trẻ em bị đuối nước thì có gần 50% là trẻ em trai và trẻ trên 5 tuổi chiếm 55%. Có 85% trẻ em đang chơi bên trong hoặc ngoài nhà tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Gần một nửa cha mẹ báo cáo có giám sát con của mình trong khi tắm. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ tử vong do đuối nước cao hơn bất kỳ các loại tai nạn thương tích khác (26). Tại Úc đuối nước là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 cho nhóm trẻ từ 1 – 14 tuổi. Tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ dưới 5 tuổi cao gấp 3 lần người lớn (4,6/100.

Tử vong do đuối nước ở trẻ dưới 4 tuổi chiếm đến 20%, trong khi đó nhóm này chỉ chiếm 7% dân số. Có 17% tử vong xảy ra tại các bể bơi và trẻ dưới 4 tuổi chiếm đa số (64%) (27). Tương tự, báo cáo gánh nặng bệnh tật do TNTT của Brazil cũng chỉ ra tử vong do đuối nước chiếm đến 47% (28). Tại Bangladesh, nghiên cứu của Rahman.

A và cộng sự (2009), điều tra 171.366 hộ gia đình bằng cách sử dụng mẫu ngẫu nhiên cụm đa tầng, với 352.000 trẻ em từ 0 – 17 tuổi được chọn. Kết quả cho thấy, trong số 10 nguyên nhân gây tử vong trẻ em từ 0 – 17 tuổi, đuối nước là nguyên nhân đứng hàng thứ 5 với tỷ suất 7 27,3/100. Nếu loại trừ trẻ sơ sinh thì đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em từ 1 – 17 tuổi. Nơi xảy ra đuối nước thường gặp là các nguồn nước tự nhiên, ao hồ, sông, rạch tỷ lệ trên 80%.

Đuối nước xảy ra cách nhà trong vòng 20 mét và thời điểm xảy ra từ lúc 9 giờ sáng đến 17 giờ chiều (tỷ lệ khoảng 80%). Đuối nước hầu hết gặp ở các trẻ không biết bơi. Trẻ biết bơi có tỷ lệ thuận với nhóm tuổi, cụ thể khả năng bơi lội của trẻ ở nhóm 4 – 9 tuổi là 3% và ở nhóm 10 – 14 tuổi tăng lên là 33% (29), nghiên cứu này cho thấy rằng đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong trẻ em từ 1 – 17 tuổi, nơi xảy ra đuối nước thường gặp là nguồn nước tự nhiên, hầu hết các trường hợp đuối nước gặp ở trẻ không biết bơi. Theo tác giả Rahman Aminur và cộng sự (2008), cho thấy rằng trẻ em 5 – 10 tuổi, nguy cơ bị đuối nước ở trẻ em nam cao hơn trẻ em nữ.

Nơi được đề cập nhiều nhất dẫn đến đuối nước là ao, hồ, kênh rạch, các trường hợp bị đuối nước thường xảy ra vào buổi trưa. Biện pháp phòng chống đuối nước trẻ em những người tham gia nghiên cứu đề nghị rằng, trẻ em cần được giám sát chặt chẽ và liên tục. Lấp đầy các ao, hồ không sử dụng hoặc phải có rào che chắn. Nghiên cứu cho thấy thiếu sự giám sát ở trẻ em dưới 5 tuổi và thiếu kỹ năng bơi lội của trẻ là yếu tố quyết định đuối nước ở trẻ em tại Bangladesh (30).

Nghiên cứu của Rahman A và cộng sự năm 2017 về Dịch tễ học đuối nước ở Bangladesh. Nghiên cứu điều tra hộ gia đình được thực hiện tại vùng nông thôn Bangladesh từ tháng 6 đến 11 năm 2013, bao gồm 1,17 triệu người. Thông tin về đuối nước được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi. Kết quả cho thấy tỷ suất đuối nước là 15,8/100.

Nam có tỷ lệ đuối nước cao hơn nữ và đuối nước có liên quan đến trình độ học vấn của cha mẹ, người có trình độ học vấn thấp có tỷ lệ trẻ bị đuối nước cao gấp 3 lần so với người có trình độ trung học phổ thông. Đuối nước là một vấn đề y tế nghiêm trọng tại Bangladesh (31). Nghiên cứu của tác giả Mathur A và cộng sự năm 2018, về chấn thương không chủ ý ở trẻ em vùng nông thôn và thành thị tại Ujjain, Ấn Độ: cũng cho thấy đuối nước cũng là một nguyên nhân gây tử vong ở trẻ với khoảng 2% trong tổng số các nguyên nhân gây thương tích tại gia đình (32). 8 Thống kê tại Trung Quốc cho thấy có đến 80% trẻ em từ 13-17 tuổi không biết bơi, một trong những nguyên nhân gây ra đuối nước ở trẻ em là do không biết bơi, vấn đề này càng nghiêm trọng hơn ở vùng nông thôn, nơi có rất nhiều ao, hồ và là nơi mà tỷ lệ tử vong do đuối nước chiếm tới 60% trong tổng số tử vong do tai nạn thương tích tại Trung Quốc (33).

Nghiên cứu của Wenjun Ma và cộng sự (2010), đuối nước là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe. Số liệu thu thập từ cuộc điều tra tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.000 dân/năm bị tử vong là do đuối nước. Tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 1,5 lần so với ở nữ. Vùng nông thôn nguy cơ đuối nước xảy ra cao gấp 2 lần so với vùng thành thị.

Tỷ suất tử vong do đuối nước cao nhất ở nhóm trẻ từ 5-9 tuổi so với các nhóm tuổi khác. Đuối nước xảy ra phổ biến nhất là vùng nước tự nhiên và thời điểm vào mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) là đỉnh cao của đuối nước. Nghiên cứu này cho thấy yếu tố nguy cơ gây tử vong do đuối nước ở Trung Quốc là trẻ tiếp xúc với các nguồn nước mở, khả năng bơi kém và thiếu sự giám sát của người chăm sóc trẻ. Nghiên cứu kiến nghị để giảm tử vong do đuối nước là cần phải dạy trẻ bơi và nâng cao việc giám sát trẻ thường xuyên (34).

Tại Singapore, nghiên cứu của Tyebally.Y (2010), về dịch tễ học đuối nước ở trẻ từ 0-16 tuổi đến khoa cấp cứu của mạng lưới Y tế Singapore. Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn, rà soát hồ sơ lưu trữ của bệnh nhân và các báo cáo. Kết quả cho thấy tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 3 lần so với nữ. Tuổi bị đuối nước cao nhất là 3-4 tuổi và thấp nhất tuổi trên 13 tuổi.

Sự cố xảy ra ở hồ bơi hơn 50%. Ngoài ra, trẻ dưới 5 tuổi nguy cơ bị đuối nước cũng gặp ở bồn tắm, bể, ao. Tại nơi xảy ra đuối nước không có biện pháp an toàn như: Người cứu hộ, vật nổi, áo phao, biển cảnh báo hoặc hàng rào (35). Ở các nước Đông Nam Á, điều tra cộng đồng (2007), tại năm quốc gia: Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Việt Nam cho thấy rằng nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 18 tuổi là đuối nước.

Ở năm quốc gia này có tỷ lệ tử vong của đuối nước là 30/100. Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc cho thấy tỷ suất tử vong do đuối nước là 5,6/100.000 dân/năm, kết quả này chiếm 11% các tổn thương gây tử vong ở Trung Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại Cao Lãnh, Đồng Tháp (2015-2019)" trình bày các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu tình trạng đuối nước ở trẻ em tiểu học. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ nguyên nhân và hệ quả của đuối nước mà còn đề xuất các giải pháp thiết thực, từ việc giáo dục nhận thức cho học sinh đến việc tổ chức các hoạt động thực hành an toàn dưới nước. Những thông tin trong tài liệu sẽ giúp các bậc phụ huynh, giáo viên và nhà quản lý giáo dục hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc phòng chống đuối nước, từ đó có những hành động cụ thể để bảo vệ trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về giáo dục và phát triển kỹ năng cho học sinh tiểu học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động trải nghiệm tại tỉnh Bình Dương, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển kỹ năng sống cho trẻ. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn khoa học lớp 5 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp dạy học sáng tạo, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ giáo dục học dạy học đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh lớp 3 theo hướng phát triển năng lực sẽ mang đến những phương pháp hữu ích trong việc phát triển khả năng đọc hiểu cho học sinh. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều hướng đi mới trong giáo dục trẻ em.