Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ XÁC LẬP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng và căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng Căn cứ xác lập quan hệ tài sản chung phát sinh giữa vợ chồng là một nội dung quan trọng trong các quan hệ pháp lý phát sinh giữa hai chủ thể đặc biệt này. Bên cạnh ý nghĩa là một quan hệ “phái sinh” phát sinh sau khi đã xác lập quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, căn cứ xác lập quan hệ tài sản còn đóng vai trò là nền tảng hay sự hậu thuẫn cần thiết giúp quan hệ nhân thân giữa vợ chồng tồn tại. Không thể có quan hệ hôn nhân đơn thuần giữa vợ chồng hoàn toàn tách biệt khỏi quan hệ tài sản bởi vì “Suy cho cùng, tất cả tài sản của vợ, chồng dù là của riêng mỗi ngƣời hay của chung hai ngƣời, đều phải đƣợc khai thác, sử dụng trƣớc hết nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của gia đình, sau đó mới phục vụ cho cá nhân chủ sở hữu” [49, tr.
Bối cảnh cần thiết nhƣ vậy đặt ra vấn đề về việc tìm hiểu một cách toàn diện chế độ pháp lý về căn cứ xác lập quan hệ tài sản chung vợ chồng. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng là quan hệ xã hội và quan hệ tài sản khách quan. Nó đƣợc hình thành trên cơ sở hôn nhân, là kết quả của sự đóng góp công sức, tài sản của cả vợ và chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân. TSCCVC là cơ sở vật chất để duy trì và phát triển gia đình, bảo đảm các nhu cầu chung của gia đình và của cá nhân họ [24, tr.
TSCCVC là một đối tƣợng quan trọng của pháp luật về tài sản. Ở xã hội nào có hôn nhân vợ chồng thì giữa vợ chồng cũng có tài sản chung. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa ở từng giai đoạn phát triển, pháp luật về TSCCVC có thể có những 7 quy định khác nhau. Chẳng hạn, có thời điểm pháp luật chỉ thừa nhận quyền tài sản của vợ chồng, có thời điểm cả vợ và chồng đều có quyền sở hữu tài sản chung.
Nhƣng về bản chất, TSCCVC là tài sản của cá nhân, không phải tài sản của pháp nhân. Vì vậy, TSCCVC trƣớc hết phản ánh tƣ tƣởng, quan điểm của các nhà lập pháp và xã hội về quyền tài sản cá nhân, quyền tự do dân sự của cá nhân, thể hiện sự thỏa thuận chung của các bên. Đó là một trong những quyền cơ bản của công dân và hiện đƣợc cộng đồng quốc tế ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế. Luật pháp trên toàn thế giới hiện nay cũng công nhận và bảo vệ tài sản cá nhân và quyền tài sản trong các văn bản pháp luật quốc gia của họ.
Tại Việt Nam, quyền sở hữu tƣ nhân đƣợc pháp luật bảo hộ [40, Đ32]. Quan điểm về quyền tự do cá nhân trong sở hữu tài sản đƣợc ghi nhận rộng hay hẹp khác nhau tùy từng thời điểm lịch sử và đặc điểm xã hội của từng nƣớc. Điều này đƣợc phản ánh rõ nét trong chế định TSCCVC thông qua mức độ công nhận quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể về TSCCVC. Sự phản ánh này đƣợc thể hiện qua ba khía cạnh lớn: Một là, pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản của mình, trong đó có thể thỏa thuận về việc áp dụng chế độ tài sản chung hoặc chế độ tài sản riêng; Hai là, pháp luật Việt Nam quy định các loại TSCCVC theo nguyên tắc chung và theo thỏa thuận của vợ chồng; Ba là, vợ chồng có thể thỏa thuận về việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung của mình.
Việc thiết lập, tạo dựng quan hệ TSCCVC là một quá trình diễn ra theo thời gian, phản ánh quan điểm của xã hội về quyền tự do cá nhân trong tài sản cũng nhƣ quyền tự do dân sự của cá nhân. Dƣới thời phong kiến, quyền tự do cá nhân ít đƣợc đề cao, hôn nhân đƣợc coi là một vấn đề hệ trọng của hai dòng họ, gia đình. Theo đó, sự thỏa thuận của hai bên trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân cũng không đƣợc quan tâm, chú ý đến. TSCCVC đƣợc xác lập 8 theo quy định của phong tục tập quán, thƣờng là theo bên nam.
Ngày nay, với quan điểm mở rộng hơn về quyền tự do cá nhân, sự thỏa thuận của hai bên trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ TSCCVC đƣợc ghi nhận ngày càng rộng rãi. Pháp luật hiện hành của Việt Nam cho phép vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản của mình, trong đó có thể thỏa thuận về việc áp dụng chế độ tài sản chung hoặc chế độ tài sản riêng. Cho đến ngày nay, sự đồng ý và thống nhất ý chí của các bên trong việc xác lập quan hệ hôn nhân và quan hệ tài sản chung vẫn có giá trị vì quyền tự do cá nhân đƣợc công nhận và bảo đảm cao độ, vợ và chồng đều có quyền bình đẳng trong việc xác lập tài sản chung. Hai bên trong quan hệ vợ chồng là ngƣời đầu tiên quyết định có nên xác lập quan hệ hôn hay không.
Không ai đƣợc ép buộc hai bên hoặc dùng bất kỳ biện pháp, hình thức nào để cƣỡng ép hai bên kết hôn một cách không tự nguyện. Tƣơng tự, tƣ tƣởng về quyền tự do cá nhân đƣợc thể hiện rõ ràng trong việc thừa nhận thỏa thuận hôn nhân trong việc xác định tài sản nào là TSCCVC và trong việc thực hiện quyền sở hữu tài sản chung vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng nhƣ hầu hết các nƣớc trên thế giới đều cho phép các chủ thể tự do thỏa thuận về tài sản chung, bao gồm cả TSCCVC [19, tr. Điều này thể hiện sự tôn trọng quyền tự do cá nhân của các chủ thể.
Ví dụ, Điều 1469 BLDS và Thƣơng mại Thái Lan quy định rằng nếu vợ chồng không có thỏa thuận đặc biệt về tài sản trƣớc khi kết hôn thì quan hệ tài sản giữa họ sẽ đƣợc điều chỉnh bởi quy định của pháp luật [3, Đ1469]. Điều này cho thấy pháp luật Thái Lan cũng coi trọng sự thỏa thuận của các bên trong việc xác lập quan hệ TSCCVC. Nhƣ vậy, pháp luật sẽ chỉ can thiệp, điều chỉnh khi hai bên không có thỏa thuận về tài sản trƣớc hôn nhân, tức là thỏa thuận về tài sản của các bên đƣợc coi là nền tảng, cơ sở của đầu tiên trong việc 9 xác lập tài sản chung vợ chồng trong quan hệ hôn nhân. Tóm lại, TSCCVC là một chế định pháp luật quan trọng, thể hiện tƣ tƣởng, quan điểm của xã hội về quyền tự do tài sản của cá nhân cũng nhƣ quyền tự do dân sự của cá nhân trong từng giai đoạn lịch sử và đặc điểm xã hội khác nhau.
Tài sản chung của vợ chồng không chỉ gắn liền với sự ra đời của HN&GĐ, thực hiện chức năng của gia đình, mà còn có ảnh hƣởng rất lớn đến toàn xã hội. Gia đình với các chức năng xã hội nhƣ thỏa mãn lợi ích, nhu cầu của vợ chồng, chức năng sinh sản, nuôi dƣỡng con cái, chức năng kinh tế, văn hóa, xã hội. không còn là vấn đề xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên mà đã trở thành vấn đề của toàn xã hội, ảnh hƣởng đến toàn xã hội. Từ đó, gia đình đƣợc coi là đơn vị của xã hội, là nền tảng của xã hội [1, tr.
Vì vậy, TSCCVC là một chế định pháp luật quan trọng, thể hiện quan điểm, tƣ tƣởng của xã hội về tự do cá nhân, quyền tự do dân sự và bảo đảm, duy trì quyền tự do, ổn định và phát triển của xã hội thông qua chức năng của gia đình. Điều này trƣớc hết đƣợc thể hiện thông qua việc Nhà nƣớc xây dựng các quy định pháp luật để quy định các điều kiện, căn cứ xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp mà trên đó TSCCVC đƣợc hình thành. Sự thỏa thuận của các bên và mong muốn xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp là điều kiện tiên quyết, nhƣng pháp luật vẫn có những quy định về điều kiện xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà các bên phải tuân thủ. Những điều kiện này tùy theo từng thời điểm lịch sử và đặc điểm xã hội của mỗi quốc gia, đƣợc quy định khác nhau và luôn phản ánh quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình trong việc bảo vệ trật tự, ổn định và phát triển.
Ví dụ, ở thời phong kiến, việc kết hôn và lập gia đình đƣợc coi là duy trì nòi giống, phát triển dòng họ nên sự đồng ý, xác nhận của hai bên gia đình đƣợc coi là điều kiện tiên quyết để công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa hai bên [12, tr. 10 Pháp luật ở thời kỳ nào cũng yêu cầu việc xác lập quan hệ hôn nhân phải đƣợc tiến hành theo những hình thức nhất định và phải đƣợc pháp luật quy định. Điều này thể hiện quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình, về bảo vệ trật tự và phát triển của xã hội. Quan điểm này đƣợc thể hiện trong quy định của pháp luật về việc thực hiện quyền sở hữu TSCCVC và quy định của pháp luật về việc tài sản nào sẽ là tài sản thuộc TSCCVC.
Pháp luật mặc dù cho phép các bên chủ thể có thể cùng nhau thỏa thuận về việc thực hiện quyền tài sản chung cũng nhƣ thỏa thuận xác định các TSCCVC, nhƣng sự thỏa thuận này luôn phải tuân theo những hình thức nhất định và phải đƣợc pháp luật công nhận. Ví dụ, pháp luật của các nƣớc tƣ bản cho phép hai bên có thể thỏa thuận xác định các tài sản chung nhƣng sự thỏa thuận này phải đƣợc tiến hành trƣớc khi kết hôn và phải đƣợc lập thành văn bản với sự ghi nhận của các cơ quan có thẩm quyền, nếu không sự thỏa thuận này sẽ bị coi là vô hiệu [9, tr. Tài sản chung của vợ chồng luôn phản ánh quan điểm của xã hội về quyền tự do cá nhân và quyền tự do dân sự của cá nhân, đồng thời phản ánh quan điểm của xã hội về vai trò của gia đình trong việc góp phần làm ổn định và phát triển xã hội một cách bền vững.