Căn Cứ Địa Cách Mạng Ở Bình Dương Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ (1954 – 1975)

Chuyên khảo phân tích Căn cứ địa cách mạng ở bình dương trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

133
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Căn Cứ Địa Cách Mạng Bình Dương 1954 1975

Cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) thắng lợi đã để lại bài học về xây dựng căn cứ địa cách mạng. Đảng ta luôn coi trọng việc xây dựng căn cứ địa làm hậu phương vững chắc. Vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, sức mạnh toàn dân tộc được nhân lên, đánh bại kẻ thù mạnh nhất thế giới. Theo quan điểm của Đảng, căn cứ địa cách mạng là vùng giải phóng trong vòng vây của địch, nơi tích lũy và phát triển lực lượng, tạo trận địa vững chắc về mọi mặt. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, hậu phương của chiến tranh cách mạng. Các hoạt động của căn cứ địa giữ vai trò quan trọng, góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng. Bình Dương là một trong những chiến trường tranh chấp ác liệt, nơi Mỹ-ngụy dồn nỗ lực để đè bẹp kháng chiến. Tuy nhiên, lực lượng kháng chiến đã giành thắng lợi, có vai trò to lớn của các căn cứ địa tại chỗ. Bình Dương hội tụ đủ yếu tố “địa lợi, nhân hòa”, được chọn xây dựng căn cứ địa cách mạng. Cùng với các tỉnh khác, chiến khu Đ hình thành và phát triển, làm căn cứ chiến đấu trường kỳ. Trong 21 năm kháng chiến, Bình Dương là địa bàn lý tưởng để xây dựng căn cứ, trú đóng lực lượng, dự trữ kho tàng và phát triển mọi mặt. Quân và dân Bình Dương đã chiến đấu anh dũng, giải phóng quê hương, góp phần vào sự nghiệp giải phóng đất nước.

1.1. Ý Nghĩa Khoa Học và Thực Tiễn Của Đề Tài Nghiên Cứu

Nghiên cứu quá trình kháng chiến, đặc biệt là căn cứ địa cách mạng của tỉnh Bình Dương trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng. Đề tài này góp phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu sự hình thành, phát triển căn cứ địa cách mạng và những bài học kinh nghiệm trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Về phương diện khoa học, việc nghiên cứu căn cứ địa cách mạngBình Dương trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) sẽ góp phần tái hiện bức tranh tổng thể về căn cứ địa cách mạng. Luận văn cung cấp tư liệu, thông tin, đánh giá khái quát, giúp có cái nhìn bao quát về vị trí, vai trò và sự đóng góp của căn cứ địa cách mạngBình Dương trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược (1954 – 1975).

1.2. Mục Tiêu và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Của Luận Văn

Về thực tiễn, nghiên cứu căn cứ địa cách mạngBình Dương trong kháng chiến chống Mỹ sẽ đúc kết được một số kinh nghiệm về xây dựng căn cứ địa cách mạng, có thể tổng kết thành chuyên đề lý luận về kinh nghiệm thực hiện đường lối chiến tranh cách mạng vào tình hình thực tiễn ở địa phương. Luận văn tập trung nghiên cứu về các căn cứ địa của tỉnh Bình Dương từ góc độ sử học. Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong địa bàn của tỉnh Bình Dương hiện nay, giai đoạn từ 1954 – 1975. Để có thể thấy rõ hơn việc hình thành căn cứ địa cách mạng, luận văn mở rộng thêm thời gian nghiên cứu từ 1945 – 1954.

II. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Căn Cứ Địa Cách Mạng Ở Bình Dương

Vấn đề hậu phương - căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh được quan tâm từ lâu. Sau kháng chiến chống Pháp, vấn đề hậu phương – căn cứ địa có điều kiện được đúc kết kinh nghiệm, xây dựng những cơ sở lý luận ban đầu. Hồ Chủ tịch đã bàn về căn cứ địa trong tác phẩm “Ngọn cờ giải phóng”. Qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, vấn đề căn cứ địa và lý luận về căn cứ địa được đề cập nhiều hơn, nghiên cứu sâu sắc hơn. Tạp chí Học tập có những phân tích, đánh giá, rút ra một số bài học kinh nghiệm về xây dựng căn cứ địa cách mạng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày về căn cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề: Khái niệm căn cứ địa, các hình thức phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, nội dung xây dựng và vai trò của các căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng. Các bài viết tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về căn cứ địa như nguồn gốc, khái niệm, nội dung, tính chất… nêu bật những đặc trưng của căn cứ địa ở Việt Nam nói chung và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng.

2.1. Các Công Trình Nghiên Cứu Tiêu Biểu Về Căn Cứ Địa

Đã có một số công trình nghiên cứu quan trọng liên quan đến đề tài luận văn. Về tổng kết chung của cả nước có cuốn “Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1954 – 1975)”. Về tổng kết riêng chiến trường B2 có cuốn “Đề cương tỉ mỉ báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ”. Bên cạnh các tổng kết trên có một tổng kết không phải về căn cứ địa nhưng lại có liên quan nhiều đến vấn đề về căn cứ, đó là “Tổng kết hậu cần chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ”. Ngoài các tổng kết trên, một số căn cứ địa trên địa bàn Miền Đông Nam Bộ cũng được quan tâm nghiên cứu trong các công trình tổng kết hoặc viết lịch sử: chiến khu rừng Sác, chiến khu Đ, Dương Minh Châu,…

2.2. Điểm Mới Trong Nghiên Cứu Về Căn Cứ Địa Bình Dương

Cuốn sách “chiến khu ở miền Đông Nam Bộ 1945 – 1954” đã nghiên cứu một cách khái quát và có hệ thống toàn bộ căn cứ địa miền Đông trong kháng chiến chống Pháp, đem lại những kiến thức bổ ích và những bài học về phương pháp cho việc nghiên cứu giai đoạn tiếp theo. Sách “Căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)”. Sách “Ban thống nhất trung uơng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975”. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, các tác phẩm, bài viết về đề tài căn cứ địa cách mạng, cả về lý luận chung và đi sâu cụ thể từng căn cứ. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về căn cứ địaBình Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, với luận văn này, chúng tôi sẽ tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn và có hệ thống hơn về căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Bình Dương.

III. Điều Kiện Tự Nhiên Ảnh Hưởng Đến Căn Cứ Địa Bình Dương

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 2,695 km2. Tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía Nam của dãy Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu. Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi… có hai ngọn núi nhấp nhô lên trên cánh đồng bằng phẳng, đó là núi Châu Thới (huyện Dĩ An) và núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở Dầu Tiếng. Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Đất xám trên phù sa cổ phù hợp với nhiều loại cây trồng nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái. Đất nâu vàng trên phù sa cổ có thể trồng rau màu, cây ăn trái chịu được hạn như cây mít, cây điều.

3.1. Đặc Điểm Khí Hậu và Thủy Văn Tỉnh Bình Dương

Khí hậu ở Bình Dương cùng chung với chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ; nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa ở Bình Dương thường đến sớm hơn, lượng mưa cao hơn, trung bình hàng năm từ 1800 – 2000mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C – 270C. Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới.

3.2. Ảnh Hưởng Của Địa Hình Đến Phát Triển Căn Cứ Địa

Địa hình và khí hậu có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và phát triển căn cứ địa. Vùng đất bằng phẳng, nhiều sông rạch thuận lợi cho việc di chuyển, tiếp tế. Đất đai màu mỡ giúp đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ. Khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho các loại bệnh tật phát triển, gây khó khăn cho sinh hoạt và chiến đấu. Tuy nhiên, địa hình cũng tạo ra những khu vực hiểm trở, khó tiếp cận, thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ bí mật.

IV. Sự Ra Đời Căn Cứ Địa Cách Mạng Ở Bình Dương

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bình Dương là địa bàn lý tưởng cho việc xây dựng căn cứ, làm nơi trú đóng lực lượng, dự trữ kho tàng và phát triển mọi mặt của vùng căn cứ. Quân và dân Bình Dương đã anh dũng chiến đấu chống lại cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng quê hương, góp phần vào sự nghiệp giải phóng đất nước của toàn dân tộc. Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng để làm hậu phương cho chiến tranh lên hàng quan trọng bậc nhất. Vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh toàn dân tộc của một quốc gia mà kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc, có tiềm lực quân sự và vật chất mạnh nhất thế giới.

4.1. Khái Niệm Căn Cứ Địa Cách Mạng

Theo quan điểm của Đảng, “căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang cách mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng”. Trên cơ sở lý luận đó, căn cứ địa đã được phát triển mạnh mẽ, rộng khắp toàn miền Nam, góp phần đặc biệt quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

4.2. Căn Cứ Địa Cách Mạng Ở Bình Dương Trước 1954

Bình Dương trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược là nơi hội tụ đầy đủ những yếu tố “địa lợi, nhân hòa” – đã được Trung ương Đảng, Chính phủ chọn để xây dựng căn cứ địa cách mạng. Cùng với các tỉnh Phước Long, Bình Long, Biên Hòa, chiến khu Đ đã được hình thành từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và phát triển trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ làm căn cứ chiến đấu trường kỳ cho đến toàn thắng.

05/06/2025
Căn cứ địa cách mạng ở bình dương trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. SỰ RA ĐỜI CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở BÌNH DƯƠNG 1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 1. Điều kiện tự nhiên Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 2,695.

Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh. Địa bàn tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía Nam của dãy Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao đến thấp xuống dần từ 5m đếm 10m so với mặt biển. Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào tọa độ địa dư từ 10 0 – 50’ – 27’’ đến 110 – 24’ – 32’’ vĩ độ Bắc và từ 106 0 – 20’ đến 106 0 – 25’ kinh độ Đông [2; tr.10] Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi… có hai ngọn núi nhấp nhô lên trên cánh đồng bằng phẳng, đó là núi Châu Thới (huyện Dĩ An) và núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở Dầu Tiếng.

Ngoài ra còn rải rác một số ngọn đồi nhấp nhô gợn sóng, cao thấp khác nhau. Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bổ trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một. Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái.

Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 34.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc Quốc lộ 13. Đất này có thể trồng rau màu, cây ăn trái chịu được hạn như cây mít, cây điều. Đất phù sa Glây (đất dốc tụ). chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An.

Đất thấp mùn Glây “có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối, có chua phèn, tính axít, chỉ có thể trồng lúa, rau, cây ăn trái… sau khi đã được cải tạo” [28; tr. 9 Khí hậu ở Bình Dương cùng chung với chế dộ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ; nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa từ tháng 5 – 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước tới tháng 4 năm sau. Mùa mưa ở Bình Dương thường đến sớm hơn, lượng mưa cao hơn, “trung bình hàng năm từ 1800 – 2000mm”[2; tr.

Số ngày có mưa là 120 ngày. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình là 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm. Tháng mưa ít nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C – 270C.

Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 390C và thấp nhất từ 160C – 170C (ban đêm) và 180C vào sáng sớm, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 290C (tháng 4), tháng thấp nhất 240C (tháng 1). Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng 9. Số giờ nắng trung bình 2.400 giờ, có năm lên tới 2. Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới.

Mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông Bắc. Mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây Nam. Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s, thường là Tây, Tây Nam. Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80 – 90% và biến đổi theo mùa.

Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa. Do đó, độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa. Độ ẩm trong năm ít biến động. Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác.

Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (tỉnh Lâm Đồng) dài 635km nhưng chỉ chảy qua địa phận Bình Dương ở Tân Uyên. Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân. 10 Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước). Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối.

Sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương về phía Tây, đoạn từ Lái Thiêu lên tới Dầu Tiếng dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thủy sản. Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ đồi Cam Xe huyện Bình Long (tỉnh Bình Phước) chảy qua Bến Cát rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ. Sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở Bến Cát, Thủ Dầu Một, Thuận An cùng với những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây trái xanh tốt. Sông Sài Gòn chẳng những có giá trị về kinh tế mà còn có giá trị về mặt quân sự.

Sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc Rơ – Láp, Đắc Giun, Đắc Húyt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1. Ở phần hạ lưu, đoạn con sông chảy vào đất Bình Dương dài 80 km. Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại. Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh.

Trong hệ thống đường bộ, nổi lên con đường Quốc lộ 13 – con đường chiến lược rất quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ Nam tới Bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối liền Vương quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế. Đường quốc lộ 14 chạy từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như thời kì hòa bình xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long (Bình Phước); liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh, liên tỉnh lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng… và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh.

11 Hệ thống giao thông đường thủy của Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía Nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về chủng loài. Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn. Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quí như: căm xe, sao, trắc, cẩm lai, giáng hương [38; tr.

Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loại động vật trong đó có những loài động vật quí hiếm; bên cạnh đó còn có những loại dây, củ lấy bột như củ nần, củ mài, củ chụp; nhiều loại rau rừng như rau tàu bay, lá bươm, lá bép và nhiều loại trái cây là nguồn lương thực quan trọng. Tóm lại, với những đặc điểm về địa lí tự nhiên vừa có rừng núi, vừa có đồng bằng, vừa có sông ngòi, khí hậu mát mẻ thì những hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản là những thế mạnh của tỉnh. Đây là cơ sở để khai thác nguồn hậu cần tại chỗ thông qua việc lao động sản xuất và trao đổi buồn bán để phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở địa phương. Lịch sử hình thành tỉnh Bình Dương Cùng với Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương cũng đã hơn 300 năm tuổi, tính từ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lí lập nên Phủ Gia Định năm 1698 đến nay (2012).

Thời gian và những biến động của lịch sử nên địa lí hành chính của Bình Dương có nhiều thay đổi. Dưới thời các chúa Nguyễn, Bình Dương là vùng đất thuộc tổng Bình An, tỉnh Biên Hòa. Năm Gia Long thứ 2 (1803), tổng Bình An được nâng lên thành huyện Bình An, gồm có 10 tổng. Địa bàn của huyện nằm trên các vùng đất: Bến Cát, Lộc Ninh, Lái Thiêu, Hớn Quản và một phần đất thuộc huyện Ngãi An (Thủ Đức), huyện lị đặt tại Phú Cường.

Năm 1837, huyện Bình An được chia thành hai huyện là Bình An (Thủ Dầu Một) và Ngãi An (Thủ Đức). Năm 1867, Pháp đã chiếm được Nam Kỳ lục tỉnh. Đến năm 1876, Pháp chia vùng đất này thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực lại chia ra thành các tiểu 12 khu (có khoảng 20 tiểu khu), Thủ Dầu Một là một trong 5 tiểu khu trực thuộc khu hành chính lớn Sài Gòn. Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Pháp đổi tiểu khu thành tỉnh, tiểu khu Thủ Dầu Một được đổi thành tỉnh Thủ Dầu Một.

Về vị trí địa lí, tỉnh Thủ Dầu Một nằm trên tả ngạn sông Sài Gòn và trên địa phận của huyện Bình An trước đây cộng thêm với tổng Dương Hòa Hạ (vùng Dầu Tiếng ngày nay). Ngày 22 tháng 10 năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra sắc lệnh 143 – NV, trong đó có việc giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập 2 tỉnh Bình Dương, Bình Long và một số xã nhập vào tỉnh Phước Long. Bình Dương trở thành một trong 22 tỉnh của Nam Phần và được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập. Tỉnh lị đặt tại Thủ Dầu Một, nhưng được đổi thành Phú Cường.

Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã (ngày 30/8/1957): Quận Châu Thành, có 3 tổng là Bình Điền, Bình Phú, Bình Thiện; quận lị đặt tại Phú Cường. Quận Lái Thiêu, có 1 tổng là Bình Chánh; quận lị đặt tại Tân Thới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Căn Cứ Địa Cách Mạng Ở Bình Dương Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ (1954 – 1975)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của các căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ tại Bình Dương. Tác phẩm không chỉ nêu bật những chiến lược và phương pháp tổ chức của lực lượng kháng chiến mà còn phân tích những ảnh hưởng của các căn cứ địa đến sự thành công của cuộc chiến. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà các căn cứ này đã hỗ trợ cho việc huy động lực lượng, tổ chức chiến đấu và duy trì tinh thần kháng chiến trong suốt giai đoạn khó khăn.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Căn cứ tỉnh ủy cần thơ trong kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975, nơi cung cấp cái nhìn về các căn cứ địa khác trong khu vực miền Nam. Ngoài ra, tài liệu Căn cứ tỉnh ủy thủ dầu một trong kháng chiến chống mỹ cứu nước từ 1955 đến 1975 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược tương tự. Cuối cùng, Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam việt nam trong kháng chiến chống mỹ cứu nước 1960 1969 sẽ mang đến một góc nhìn toàn diện hơn về các lực lượng kháng chiến trong giai đoạn này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về bối cảnh lịch sử và các chiến lược kháng chiến trong cuộc chiến chống Mỹ.