CHƯƠNG 1. SỰ RA ĐỜI CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở BÌNH DƯƠNG 1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 1. Điều kiện tự nhiên Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 2,695.
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh. Địa bàn tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía Nam của dãy Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao đến thấp xuống dần từ 5m đếm 10m so với mặt biển. Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào tọa độ địa dư từ 10 0 – 50’ – 27’’ đến 110 – 24’ – 32’’ vĩ độ Bắc và từ 106 0 – 20’ đến 106 0 – 25’ kinh độ Đông [2; tr.10] Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi… có hai ngọn núi nhấp nhô lên trên cánh đồng bằng phẳng, đó là núi Châu Thới (huyện Dĩ An) và núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở Dầu Tiếng.
Ngoài ra còn rải rác một số ngọn đồi nhấp nhô gợn sóng, cao thấp khác nhau. Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bổ trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một. Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái.
Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 34.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc Quốc lộ 13. Đất này có thể trồng rau màu, cây ăn trái chịu được hạn như cây mít, cây điều. Đất phù sa Glây (đất dốc tụ). chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An.
Đất thấp mùn Glây “có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối, có chua phèn, tính axít, chỉ có thể trồng lúa, rau, cây ăn trái… sau khi đã được cải tạo” [28; tr. 9 Khí hậu ở Bình Dương cùng chung với chế dộ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ; nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa từ tháng 5 – 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước tới tháng 4 năm sau. Mùa mưa ở Bình Dương thường đến sớm hơn, lượng mưa cao hơn, “trung bình hàng năm từ 1800 – 2000mm”[2; tr.
Số ngày có mưa là 120 ngày. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình là 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm. Tháng mưa ít nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C – 270C.
Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 390C và thấp nhất từ 160C – 170C (ban đêm) và 180C vào sáng sớm, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 290C (tháng 4), tháng thấp nhất 240C (tháng 1). Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng 9. Số giờ nắng trung bình 2.400 giờ, có năm lên tới 2. Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới.
Mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông Bắc. Mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây Nam. Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s, thường là Tây, Tây Nam. Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80 – 90% và biến đổi theo mùa.
Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa. Do đó, độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa. Độ ẩm trong năm ít biến động. Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác.
Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (tỉnh Lâm Đồng) dài 635km nhưng chỉ chảy qua địa phận Bình Dương ở Tân Uyên. Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân. 10 Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước). Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối.
Sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương về phía Tây, đoạn từ Lái Thiêu lên tới Dầu Tiếng dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thủy sản. Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ đồi Cam Xe huyện Bình Long (tỉnh Bình Phước) chảy qua Bến Cát rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ. Sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở Bến Cát, Thủ Dầu Một, Thuận An cùng với những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây trái xanh tốt. Sông Sài Gòn chẳng những có giá trị về kinh tế mà còn có giá trị về mặt quân sự.
Sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc Rơ – Láp, Đắc Giun, Đắc Húyt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1. Ở phần hạ lưu, đoạn con sông chảy vào đất Bình Dương dài 80 km. Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại. Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh.
Trong hệ thống đường bộ, nổi lên con đường Quốc lộ 13 – con đường chiến lược rất quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ Nam tới Bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối liền Vương quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế. Đường quốc lộ 14 chạy từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như thời kì hòa bình xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long (Bình Phước); liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh, liên tỉnh lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng… và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh.
11 Hệ thống giao thông đường thủy của Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía Nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về chủng loài. Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn. Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quí như: căm xe, sao, trắc, cẩm lai, giáng hương [38; tr.
Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loại động vật trong đó có những loài động vật quí hiếm; bên cạnh đó còn có những loại dây, củ lấy bột như củ nần, củ mài, củ chụp; nhiều loại rau rừng như rau tàu bay, lá bươm, lá bép và nhiều loại trái cây là nguồn lương thực quan trọng. Tóm lại, với những đặc điểm về địa lí tự nhiên vừa có rừng núi, vừa có đồng bằng, vừa có sông ngòi, khí hậu mát mẻ thì những hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản là những thế mạnh của tỉnh. Đây là cơ sở để khai thác nguồn hậu cần tại chỗ thông qua việc lao động sản xuất và trao đổi buồn bán để phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở địa phương. Lịch sử hình thành tỉnh Bình Dương Cùng với Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương cũng đã hơn 300 năm tuổi, tính từ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lí lập nên Phủ Gia Định năm 1698 đến nay (2012).
Thời gian và những biến động của lịch sử nên địa lí hành chính của Bình Dương có nhiều thay đổi. Dưới thời các chúa Nguyễn, Bình Dương là vùng đất thuộc tổng Bình An, tỉnh Biên Hòa. Năm Gia Long thứ 2 (1803), tổng Bình An được nâng lên thành huyện Bình An, gồm có 10 tổng. Địa bàn của huyện nằm trên các vùng đất: Bến Cát, Lộc Ninh, Lái Thiêu, Hớn Quản và một phần đất thuộc huyện Ngãi An (Thủ Đức), huyện lị đặt tại Phú Cường.
Năm 1837, huyện Bình An được chia thành hai huyện là Bình An (Thủ Dầu Một) và Ngãi An (Thủ Đức). Năm 1867, Pháp đã chiếm được Nam Kỳ lục tỉnh. Đến năm 1876, Pháp chia vùng đất này thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực lại chia ra thành các tiểu 12 khu (có khoảng 20 tiểu khu), Thủ Dầu Một là một trong 5 tiểu khu trực thuộc khu hành chính lớn Sài Gòn. Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Pháp đổi tiểu khu thành tỉnh, tiểu khu Thủ Dầu Một được đổi thành tỉnh Thủ Dầu Một.
Về vị trí địa lí, tỉnh Thủ Dầu Một nằm trên tả ngạn sông Sài Gòn và trên địa phận của huyện Bình An trước đây cộng thêm với tổng Dương Hòa Hạ (vùng Dầu Tiếng ngày nay). Ngày 22 tháng 10 năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra sắc lệnh 143 – NV, trong đó có việc giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập 2 tỉnh Bình Dương, Bình Long và một số xã nhập vào tỉnh Phước Long. Bình Dương trở thành một trong 22 tỉnh của Nam Phần và được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập. Tỉnh lị đặt tại Thủ Dầu Một, nhưng được đổi thành Phú Cường.
Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã (ngày 30/8/1957): Quận Châu Thành, có 3 tổng là Bình Điền, Bình Phú, Bình Thiện; quận lị đặt tại Phú Cường. Quận Lái Thiêu, có 1 tổng là Bình Chánh; quận lị đặt tại Tân Thới.