Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẤM, HẠN CHẾ ĐÌNH CÔNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG 1. Khái niệm, các dấu hiệu cơ bản và bản chất của đình công 1. Khái niệm đình công Đình công là hiện tượng phổ biến trong xã hội, nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay.
Người ta quen dần với các sự kiện như: biểu tình, đình công trên đường phố, trong các nhà máy, xí nghiệp; ở mọi ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Đình công có sức lôi kéo mạnh mẽ, mức độ ảnh hưởng rộng lớn, mang tính dây chuyền. Nó không chỉ dừng lại ở phạm vi một doanh nghiệp, một ngành mà có thể lan rộng ra toàn xã hội. Do điều kiện kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia có quan điểm khác nhau về đình công.
Có quốc gia thừa nhận quyền đình công nhưng cũng có nước hiện vẫn tồn tại những quy định hạn chế, thậm chí là không thừa nhận; và cũng có quốc gia ghi nhận đình công là quyền hiến định song có quốc gia cũng mới chỉ ghi nhận đình công là quyền luật định. Sự khác biệt này xuất phát từ điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia. Đình công là phương tiện cuối cùng được Hiến pháp bảo đảm của người lao động và công đoàn của họ nhằm thực hiện các đòi hỏi chính đáng về thương lượng. Đình công cần tạo nên sức ép đối với giới chủ để gây áp lực cho một kết quả khả dĩ [28].
Như vậy, đình công thuộc quyền hiến định, quyền được bảo đảm bởi văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, đó là Hiến pháp. Nó được coi là phương tiện cuối cùng để người lao động và tổ chức của họ (công đoàn) thực hiện các đòi hỏi chính đáng về thương lượng. Điều quan trọng của đình công là tạo nên sức ép với giới chủ để gây áp lực cho một kết 8 z quả khả dĩ. Kết quả khả dĩ được đề cập ở đây chính là một thỏa ước lao động mới ra đời.
Điều này cho thấy sự khác biệt trong quan niệm đình công ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Đình công ở các nước có nền kinh tế phát triển thường là đình công về lợi ích; ở đó cả người lao động và chủ sử dụng đều có ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật. Quyền lợi của người lao động theo quy định pháp luật được người sử dụng lao động nghiêm túc chấp hành. Họ đình công để đấu tranh đòi giới chủ phải thỏa mãn những lợi ích trên luật, những lợi ích mà bản thân họ cho rằng đã bị giới chủ xâm phạm; thậm chí người lao động và công đoàn còn đình công gây sức ép với chính quyền, chính phủ, phản đối chính sách do chính phủ ban hành mà theo họ là không có lợi cho người lao động (có thể lấy ví dụ về một loạt cuộc đình công vào tháng 3/2006 của người dân Pháp, đặc biệt là thanh niên, sinh viên phản đối Chính phủ Villepin ban hành đạo Luật về tuyển dụng giới trẻ, dưới tên gọi "Hợp đồng tuyển dụng đầu tiên" vì họ cho rằng việc cho phép giới chủ có thể chấm dứt hợp đồng làm việc với người lao động vào bất cứ lúc nào trong thời gian tập sự (hai năm) mà không cần viện dẫn lý do là đặt người lao động vào thế bị động [57].
Trong Luật Quan hệ lao động của Thái Lan cho rằng, đình công là việc những người lao động ngừng công việc hàng loạt với tính chất tạm thời do có tranh chấp lao động. Đình công xuất phát từ tranh chấp lao động, do mâu thuẫn giữa các bên trong quan hệ lao động không được giải quyết hoặc có sự thương lượng, hòa giải nhưng sự thương lượng, hòa giải đó không làm thỏa mãn đòi hỏi của người lao động. Đình công có dấu hiệu là sự ngừng việc nhưng tính chất của sự việc này khác với sự ngừng việc trong chấm dứt quan hệ lao động. Người lao động cùng nhau ngừng việc hàng loạt để tiến hành đình công nhưng chỉ với tính chất tạm thời, sau khi kết thúc đình công, họ có thể lại tiếp tục làm việc, quan hệ lao động đã thiết lập với chủ sử dụng vẫn được duy trì; còn khi chấm dứt quan hệ lao động, người lao động không còn bất cứ mối quan hệ ràng buộc nào với chủ sử dụng.
Không nêu ra một khái 9 z niệm hay định nghĩa cụ thể về đình công, Chính phủ Philippin thể hiện quan điểm về đình công như sau: "Đình công không chỉ bao gồm sự ngừng việc có phối hợp mà gồm cả lãn công, nghỉ việc hàng loạt, bãi công ngồi, có ý đồ hủy hoại, tiêu hủy hoặc phá hoại thiết bị, cơ sở sản xuất và những hoạt động tương tự" [21]. Một loạt dấu hiệu để nhận biết đình công không chỉ là dấu hiệu ngừng việc có sự phối hợp. Lãn công, bãi công ngồi, nghỉ việc hàng loạt hay những hành vi thể hiện ý đồ hủy hoại, tiêu hủy hoặc phá hoại thiết bị, cơ sở sản xuất cũng được coi là dấu hiệu để nhận biết đình công ở Philippin. Như vậy, cách thức đình công mà Chính phủ nước này thừa nhận về mặt luật pháp đa dạng hơn nhiều quốc gia khác.
Thực tế cho thấy nhiều nước không thừa nhận lãn công hay những hành động có ý đồ phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản… của chủ sử dụng là một trong những hình thức biểu hiện của đình công và coi đây là hành vi vi phạm pháp luật lao động. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về đình công, song, các quốc gia trên thế giới đã thể hiện ý chí thống nhất thông qua việc ghi nhận đình công là một trong những quyền của người lao động. Trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (1966) mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 ghi rõ: "Các thành viên của Công ước cam kết bảo đảm quyền đình công với điều kiện là quyền này phải được thực hiện phù hợp với luật pháp của mỗi nước". Như vậy, yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội có tác động trực tiếp tới việc các quốc gia thực thi công ước và chuyển hóa các quy định của công ước thành pháp luật quốc gia.
Yêu cầu mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đặt ra đối với các thành viên gia nhập công ước đó là việc cam kết bảo đảm việc thực hiện quyền đình công; tuy nhiên mức độ bảo đảm thực hiện đến đâu còn phải tính tới đặc thù của mỗi nước. Đình công là quyền cơ bản của người lao động. Đó là thông điệp mà Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) muốn truyền tải tới những quốc gia đã và sẽ gia nhập Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội. Đã có sự thừa nhận về mặt pháp lý nhưng ILO chưa đưa ra một khái niệm thống nhất về đình 10 z công, có lẽ tổ chức này còn tính tới yếu tố quốc gia và điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước; vì thế để mỗi quốc gia chủ động đưa ra khái niệm đình công.
ILO bảo vệ quyền đình công của người lao động trên cơ sở Công ước lao động quốc tế số 87 (1948) về các quyền tự do liên kết và quyền tổ chức, Công ước số 98 (1949) về quyền tổ chức và thương lượng tập thể. ILO có hai cơ cấu đặc biệt giám sát vấn đề tự do liên kết (kể cả đình công) của người lao động là: Uỷ ban về quyền tự do liên kết của Hội đồng quản trị ILO và Hội đồng điều tra, hoà giải về quyền tự do liên kết. Quan điểm của ILO về vấn đề đình công được thể hiện tập trung trong bản tổng khảo sát về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể do Uỷ ban các chuyên gia về việc áp dụng Công ước và khuyến nghị của ILO trình bày tại Hội nghị lao động quốc tế kỳ họp thứ 69 (1983). ILO nhận định: Đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà người lao động và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà người lao động trực tiếp quan tâm [47, tr.
Với cách hiểu như trên thì đình công không chỉ có ý nghĩa đối với người lao động mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội. Không những đem lại điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động, đình công còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội hay các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà người lao động trực tiếp quan tâm. Đó là ý nghĩa xã hội lớn lao mà đình công hướng tới. Vậy tại sao có những quốc gia cho tới thời điểm hiện nay vẫn đưa ra các quy định nhằm hạn chế quyền đình công.
Phải chăng hiểu đình công như thế nào còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp và ý thức chính trị của nhà cầm quyền. 11 z Theo quan điểm của ILO, đình công là loại quyền kinh tế - xã hội, là một trong những biện pháp thiết yếu để người lao động sử dụng nhằm mục đích gây sức ép buộc chủ sử dụng phải thỏa mãn các yêu sách về kinh tế. Đình công là quyền của người lao động, gắn với quan hệ lao động. Tuy nhiên, đình công chỉ được xác định là hành vi hợp pháp nếu nó được thực hiện bởi cả tập thể người lao động.
Một cá nhân thực hiện hành vi yêu cầu người sử dụng lao động (hoặc Nhà nước) đáp ứng các lợi ích kinh tế và xã hội của bản thân không được coi là thực hiện quyền đình công. Quyền đình công là quyền của người lao động nhưng phải gắn với tập thể lao động, với tổ chức của họ. Văn phòng lao động quốc tế Geneva quan niệm về đình công như sau: "Đình công là thương lượng không có kết quả, không thể tiếp tục quá trình thương lượng tập thể. Quyền đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà người lao động và tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế - xã hội của mình" [32, tr.