Chương 1 TỔNG QUAN ---------- 1.1 KHÁI QUÁT VỀ β-CYCLODEXTRIN 1.1 Cấu trúc của β-cyclodextrin β-Cyclodextrin là một trong những cyclodextrin thuộc họ oligosaccharide vòng với lỗ hổng trung tâm ưa chất béo và bề mặt ngoài ưa nước. 49,69 Phân tử β-cyclodextrin chứa số lượng hydro cho và nhận tương đối lớn.49 β-Cyclodextrin được mô tả đầu tiên bởi Villiers vào năm 1891.67 Các tên khác thường sử dụng là cyclomylose, cyclomalto oligisaccharide, cyclomaltose hoặc Schardinger dextrin.84 Phân tử β-cyclodextrin chứa bảy đơn vị α-D-glucopyranose được liên kết bằng liên kết α-1,4-glycoside.28,51,54 Cấu trúc của phân tử β-cyclodextrin được trình bày trong hình 1.49 HO O OH OH O HO O O HO O OH OH HO O HO OH HO O O OH HO O O OH OH HO OHO HO OH O OH O O HO Hình 1 Cấu trúc hóa học của β-cyclodextrin TRẦN THỊ HỒNG NGÂN 3 WWW.COM LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC - 2010 Do sự hình thành cấu tạo ghế của các đơn vị glucopyranose, phân tử β-cyclodextrin có hình dạng giống như hình nón cụt.49,69 Các nhóm chức hydroxyl định hướng ở mặt ngoài hình nón, trong đó những nhóm hydroxyl bậc một ở rìa hẹp của hình nón và những nhóm hydroxyl bậc hai ở rìa rộng hơn. Lỗ hổng trung tâm được bọc bởi khung carbon và nguyên tử oxygen thuộc ether của đường. 69 Vị trí lỗ hổng hẹp của β-cyclodextrin có các nhóm hydroxyl bậc một và được gọi là mặt thứ nhất.
Ngược lại, vị trí lỗ hổng rộng của β-cyclodextrin mang các nhóm hydroxyl bậc hai và được gọi là mặt thứ hai. Sự khác nhau giữa các nhóm hydroxyl bậc một và bậc hai cho phép hình thành chức năng chọn lọc trên rìa bậc một và bậc hai.49,74,84 Đường kính mặt ngoài của phân tử β-cyclodextrin 1,54 nm, đường kính lỗ hổng 0,60 – 0,65 nm.19,84 Hình 2 Kích thước và cấu trúc của β-cyclodextrin 1.2 Tính chất của β-cyclodextrin 1.1 Tính chất lý – hóa của β-cyclodextrin β-Cyclodextrin ổn định về mặt hóa học trong các dung dịch kiềm, dễ bị thủy phân trong điều kiện acid mạnh. Tuy nhiên, β-cyclodextrin có nhiều khả năng chịu được sự thủy phân được xúc tác với acid hơn so với dextrin tuyến tính .16 Sự thủy phân trong acid của β-cyclodextrin được nghiên cứu bởi Schonberger et al. Liên kết glycoside trong β-cyclodextrin ổn định giống như liên kết glycoside trong oligosaccharide tuyến tính.84 TRẦN THỊ HỒNG NGÂN WWW.COM LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC - 2010 β-Cyclodextrin có độ hòa tan trong nước thấp hơn nhiều so với dextrin tuyến tính hay nhánh và thấp hơn so với saccharide không vòng.5,16,49,69,84 Điều này là do sự liên kết tương đối mạnh của các phân tử β-cyclodextrin ở trạng thái tinh thể (năng lượng mạng tinh thể tương đối cao).
Hơn nữa, β-cyclodextrin hình thành liên kết hydro nội phân tử giữa các nhóm hydroxyl bậc hai, chính điều này làm giảm số lượng các nhóm hydroxyl có khả năng hình thành các liên kết hydro với các phân tử nước xung quanh. 15 Các lực tương tác này làm ổn định vòng lớn của β-cyclodextrin và là nguyên nhân ngăn ngừa sự hydrate hóa của phân tử nước. Tuy nhiên, khi nhiệt độ tăng thì độ tan tăng nhanh. Sự thay thế bất kỳ liên kết hydro hình thành nhóm hydroxyl, thậm chí bằng nhóm chức methoxy ưa chất béo, đưa đến kết quả là cải thiện độ tan trong nước của chúng.5,49,69 Bảng 1 Các tính chất của β-cyclodextrin19,84 Các tính chất β-cyclodextrin Phân tử khối 1135 Độ tan trong nước, 25°C (g/l) 18,5 Đường kính lỗ hổng (nm) 0,60-0,65 Thể tích lỗ hổng (nm3) 0,262 Sự kết tinh trong nước (%) 13,2-14,5 Hệ số khuếch tán (40°C) (m2/giây) (× 1010) 3,2 Nhiệt độ nóng chảy, (°C) 290-305 Do độ tan trong nước giới hạn nên phức chất của β-cyclodextrin có độ tan giới hạn, dẫn đến sự kết tủa của phức β-cyclodextrin rắn từ nước và những hệ thống có nước khác.
Khi hòa tan trong nước tinh khiết các lỗ hổng của β-cyclodextrin sẽ chứa nước.2 Độc tính của β-cyclodextrin Các nghiên cứu độc tính đã chứng minh rằng β-cyclodextrin được phân phối bằng đường uống thực tế là không độc hại.19,50 TRẦN THỊ HỒNG NGÂN WWW.COM LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC - 2010 β-Cyclodextrin ít làm rát hơn α-cyclodextrin sau khi tiêm bắp; kết hợp cholesterol; lượng rất nhỏ (1-2%) hấp thu ở đường ruột trên sau khi uống, không có sự trao đổi chất trong đường ruột trên; bị chuyển hóa bởi vi khuẩn trong đầu ruột cùng và ruột kết; gần đây β-cyclodextrin được sử dụng phổ biến nhất trong các công thức dược phẩm và do đó, có lẽ β-cyclodextrin được nghiên cứu tốt nhất ở người.3 Tính tạo phức Đặc trưng quan trọng nhất của β-cyclodextrin là có khả năng tạo thành phức chất thành phần lồng nhau ở trạng thái dung dịch và rắn (loại chủ thể – khách thể) với một phạm vi rất rộng của các chất ưa chất béo dạng rắn, lỏng, khí bằng hiện tượng tạo phức phân tử. 16,19,56 β-Cyclodextrin có khả năng bao các phân tử khách vào trong lỗ hổng của nó. Bởi vì các nhóm hydroxyl trên phân tử β-cyclodextrin ở cả hai mặt sắp xếp ở mặt ngoài của lỗ hổng và mặt trong của lỗ hổng là môi trường rất nhỏ kỵ nước, β-cyclodextrin có thể bắt lấy các phân tử khách kỵ nước thích hợp vào lỗ hổng kỵ nước trong môi trường nước.74 Trong các phức này, phân tử khách được giữ trong lỗ hổng của β-cyclodextrin. Sự hình thành phức là sự phù hợp không gian giữa lỗ hổng của chủ thể và phân tử khách thể.
59 Lỗ hổng ưa chất béo của phân tử β-cyclodextrin cung cấp một môi trường rất nhỏ nơi mà một phần ưa chất béo có thể đi vào để tạo thành phức chất thành phần lồng nhau. 70 Không có liên kết cộng hóa trị bị phá vỡ hoặc được hình thành trong quá trình tạo phức.21 Động lực chính đối với quá trình tạo phức là sự thay thế của các phân tử nước giàu enthalpy chứa trong lỗ hổng với sự có mặt phân tử khách kỵ nước trong dung dịch để đạt sự kết hợp liên hợp không cực – không cực và làm giảm sự căng vòng β-cyclodextrin đưa đến kết quả trạng thái năng lượng ổn định thấp hơn,35 liên kết hydrogen, tương tác Vander Waals, tương tác tĩnh điện, …. Liên kết của các phân tử khách với β-cyclodextrin chủ không phải là vĩnh viễn và được đặc trưng bằng trạng thái cân bằng động, độ mạnh liên kết phụ thuộc vào phức chủ thể – khách thể phù hợp với nhau và trên các tương tác cục bộ đặc biệt giữa các nguyên tử trên bề mặt. Phức có thể được hình thành cả trong dung dịch hoặc trong trạng thái tinh thể và nước là dung môi được lựa chọn.
Trong dung dịch nước, phức β-cyclodextrin/thuốc liên tục được hình thành và phá vỡ.16,19,49,69 Thuốc bị đánh bẫy trong β-cyclodextrin dẫn đến sự thay đổi sâu sắc các tính chất hóa, lý và sinh học của thuốc vì nó tạm thời bị khóa hoặc bị giữ trong lỗ hổng của chủ thể, dẫn đến sự thay đổi có lợi cho các phân tử khách thể mà không thể đạt được bằng cách khác.25 Đặc biệt, các tính chất chịu ảnh hưởng nhiều hơn là tăng độ hòa tan trong nước của các khách thể không hòa tan tốt, sự ổn định của các khách thể không bền chống lại những tác động phân hủy của quá trình oxygen hóa, có thể nhìn thấy hoặc ánh sáng và nhiệt tia cực tím (UV), kiểm soát tính dễ bay hơi và thăng hoa, phân tách vật lý các hợp chất không tương thích, phân tách sắc ký, giảm mùi bằng cách giấu mùi, vị khó chịu và kiểm soát độ phóng thích của thuốc và hương vị.49,69 TRẦN THỊ HỒNG NGÂN WWW.COM LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC - 2010 1.3 Ứng dụng của β-cyclodextrin β-Cyclodextrin được sử dụng trong nhiều nghiên cứu vì kích thước lỗ hổng của nó (0,60-0,65 nm) lớn hơn và ít độc tính hơn so với các cyclodextrin tự nhiên khác. 19,49 β-Cyclodextrin làm tăng sự dẫn truyền thuốc cục bộ khi có mặt của nước. 15,71 Vì vậy, β-cyclodextrin có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: thực phẩm, 44 dược phẩm,49 mỹ phẩm,37 bảo vệ môi trường, 40 chuyển hóa sinh học,36 đóng gói và ngành công nghiệp dệt.1 Trong công nghiệp dược phẩm Trong công nghiệp dược phẩm β-cyclodextrin được sử dụng như là tác nhân tạo phức để làm tăng khả năng hòa tan trong nước của những thuốc có độ hòa tan kém, làm tăng sinh khả dụng và khả năng ổn định của chúng. Hơn nữa, β-cyclodextrin có thể được sử dụng để giảm sự rát của thuốc đối với dạ dày – ruột, làm biến đổi thuốc lỏng thành bột vi tinh thể hoặc bột vô định hình và ngăn cản sự tương tác thuốc – thuốc và thuốc – tá dược.49 Bên cạnh đó, β-cyclodextrin còn được sử dụng như chất hòa tan, đôi khi là chất ổn định hoặc giảm kích ứng thuốc cục bộ.2 Dẫn truyền thuốc thông qua màng sinh học Nhờ vào khả năng hình thành phức với nhiều phân tử thuốc khác nhau mà β-cyclodextrin và các dẫn xuất của nó được ứng dụng rộng rãi trong dẫn truyền thuốc.
Sự tương thích không gian của β-cyclodextrin làm cho nó có khả năng bao lấy các phân tử lạ khác nhau tương thích với kích thước lỗ hổng của nó.49,69 β-Cyclodextrin không dễ dàng thấm qua các màng sinh học do cấu trúc hóa học của nó, trọng lượng phân tử và hệ số phân chia octanol/nước rất thấp. Chỉ có những dạng thuốc tự do, ở trạng thái cân bằng với phức cyclodextrin/thuốc là có khả năng thâm nhập màng ưa chất béo. β-Cyclodextrin không làm tăng khả năng thấm của các thuốc hòa tan trong nước qua màng sinh học ưa chất béo. Các tính chất hóa – lý của thuốc (ví dụ độ tan trong nước), các thành phần của công thức thuốc (có hoặc không có nước) và thành phần sinh lý của các rào cản màng (như sự hiện diện của lớp khuếch tán có nước) sẽ xác định xem β-cyclodextrin tăng cường hoặc cản trở dẫn truyền thuốc thông qua màng sinh học.71,72 TRẦN THỊ HỒNG NGÂN WWW.COM LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC - 2010 β-Cyclodextrin cũng có thể tăng cường sinh khả dụng của thuốc bằng cách ổn định các phân tử thuốc ở bề mặt màng sinh học.
49,69 Ví dụ, cyclodextrin làm tăng sinh khả dụng của insulin sau khi phân phối thuốc nhỏ mũi một phần là do hiệu quả ổn định này.64 Nói chung, độ ổn định của thuốc liên kết với phức β-cyclodextrin chỉ đóng một vai trò rất nhỏ khi nói đến dẫn truyền thuốc qua màng sinh học. Đây là hiệu quả ổn định mà thường liên quan để cải thiện tính dẫn truyền thuốc. Tuy nhiên, vì β-cyclodextrin có thể nâng cao và cản trở sự dẫn truyền thuốc qua màng sinh học, điều này vô cùng quan trọng để tối ưu hóa sự hình thành công thức β-cyclodextrin chứa thuốc liên quan đến việc dẫn truyền thuốc từ các công thức.