Chương 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA LUẬT SƯ I. NHẬN THỨC VỀ NGHỀ LUẬT SƯ So với nhiều nghề khác trong xã hội, nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề khá non trẻ, tuy vậy đến nay, cũng đã ra đời hơn một thế kỷ. Dưới chế độ phong kiến, ở nhiều nước phương Đông như: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, v., chưa tồn tại Luật sư và nghề luật sư. Trong khi đó, ở một số nước phương Tây, bắt nguồn từ sự sáng tạo của nền pháp chế cổ La Mã tồn tại từ hơn 20 thế kỷ trước, đã có người bào chữa.
Sau khi xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX (1858), nhất là sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa), thực dân Pháp đã coi đây là “đất đai nước Pháp” và người dân 3 tỉnh này là “thần dân mới của Hoàng đế Pháp”. Ngày 25-7-1864, Hoàng đế Pháp Napoléon III ban Sắc lệnh về tổ chức nền tư pháp ở Nam kỳ. Trong đó, Điều 27 quy định: “Có thể thiết lập bằng nghị định của Thống đốc, bên cạnh các tòa án, những người biện hộ viên (bào chữa viên) đảm trách việc bào chữa và làm lý đoán, làm và ký tên tất cả những giấy tờ cần thiết cho việc thẩm cứu những vụ án dân sự, thương mại và chấp hành những bản án, những quyết định và bảo vệ cho bị can, bị cáo trước các tòa tiểu hình và đại hình”. Sau khi chiếm thêm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên), Pháp sáp nhập 3 tỉnh này vào “Nam Kỳ thuộc Pháp”, đặt toàn bộ 6 tỉnh Nam kỳ dưới chế độ thuộc địa, tách Nam kỳ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 26-11-1867, Thống đốc Nam kỳ Pierre-Paul Marie de La Grandière ký ban hành 20 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1 nghị định về việc hành nghề bào chữa trước các Tòa án Pháp (dành cho xét xử người Pháp và người đã nhập quốc tịch Pháp ở Nam kỳ). Đây là văn bản pháp luật đầu tiên về nghề luật sư, được chính quyền thực dân Pháp ban hành ở Việt Nam theo quy định tại Điều 27 Sắc lệnh ngày 25-7-1864 của Hoàng đế Napoléon III. Như vậy, nghề luật sư xuất hiện tại Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX và lúc đầu chỉ thuộc về người Pháp, dành cho công dân Pháp. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nghề luật sư được hoạt động trở lại theo Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức các đoàn thể luật sư (Sau đây gọi tắt là Sắc lệnh số 46/SL) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành.
Mặc dù vậy, lúc đó, vì nhiều nguyên nhân, mà quan trọng nhất là nguồn lực của đất nước phải tập trung vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên hầu như nghề luật sư lúc này không phát triển. Một số Luật sư đã tham gia cách mạng và trở thành những nhân vật quan trọng, giữ vai trò cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh về các mặt pháp lý trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp như các Luật sư: Phan Anh, Trịnh Đình Thảo, Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Trần Công Tường, Vũ Văn Hiền, Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Bùi Thị Cẩm, Nguyễn Thành Vĩnh, v. Một số Luật sư thời kỳ này đã chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác. Tuy nhiên, vào cuối năm 1949, để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, chính quyền cách mạng đã thiết lập chế độ Bào chữa viên, tạm thời thay thế vai trò của Luật sư.
Cụ thể, ngày 18-6-1949 Sắc lệnh số 69/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, sau đó, được thay thế bởi Sắc lệnh số 144/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 22-12-1949 (sửa đổi Điều 1 Sắc lệnh số 69/SL) mở rộng quyền bào chữa cho các bị cáo trước các Tòa án. Hai Sắc lệnh 69/SL và 144/SL cho thấy, quyền bào chữa của công dân Việt Nam thời kỳ này được thực hiện ở các vụ án hình sự, vụ án dân sự, kinh tế. Chế độ Bào chữa viên được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày đất nước thống nhất (năm 1975). Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đội ngũ Bào chữa viên ngày càng phát triển.
Bên cạnh các Phần 1: LUẬT SƯ, TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, TỔ CHỨC XÃ HỘI. ♦ 21 Luật sư đã tham gia kháng chiến, nhiều Luật sư, Luật gia từng làm việc trong chế độ cũ cũng gia nhập đội ngũ Bào chữa viên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1959 có thể xem là một năm đặc biệt quan trọng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Cụ thể, Điều 101 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm”.
Năm 1963, văn phòng luật sư thí điểm đầu tiên ở miền Bắc được thành lập, tên là “Văn phòng luật sư Hà Nội”. Sau khi văn phòng luật sư này ra đời, yêu cầu luật sư bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước Tòa án ngày càng tăng. Lúc đầu, Luật sư chỉ nhận bào chữa những vụ án do Tòa án chỉ định, về sau các bị cáo, đương sự có nhu cầu mời Luật sư đã trực tiếp đến “văn phòng luật sư” để đề đạt nguyện vọng. Năm 1974, Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao “văn phòng luật sư” sang Ủy ban Pháp chế của Chính phủ (được thành lập năm 1972) để quản lý theo chức năng quy định tại Nghị định số 190/CP ngày 09-10-1972 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Pháp chế thuộc Hội đồng Chính phủ.
Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kế thừa thực tiễn ở miền Bắc, tiếp tục thực hiện chế định Bào chữa viên, vì các Luật sư đoàn ở miền Nam dưới chế độ cũ đều đã bị giải tán. Việc thực hiện quyền bào chữa này được triển khai trên cơ sở Điều 4 Sắc luật số 01-SL/76 ngày 18-3-1976 của Hội đồng Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và tinh thần Thông tư số 06-BTP/TT ngày 11-6-1976 của Bộ Tư pháp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Điều 133 Hiến pháp năm 1980 nêu rõ: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”.
Tuy nhiên, thời kỳ này, trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, vai trò của Nhà nước 22 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1 bao trùm toàn bộ đời sống xã hội. Nhà nước quyết định tất cả quá trình sản xuất - kinh doanh, từ đầu vào đến lưu thông, phân phối hàng hóa bằng những mệnh lệnh hành chính. Hậu quả là nền kinh tế không phát triển, xã hội rơi vào khủng hoảng, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, kèm theo đó là tình hình kinh tế và trật tự xã hội cũng hết sức phức tạp. Trong bối cảnh đó, pháp luật không được đề cao và tất yếu, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của xã hội cũng sẽ không có, hệ quả là Luật sư và nghề luật sư tồn tại chỉ mang tính hình thức.
Từ năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp được chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Nhà nước đóng vai trò xây dựng thể chế, bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật, Nhà nước tạo điều kiện và cơ hội cho các chủ thể và các thành phần kinh tế hoạt động, phát triển theo quy luật của kinh tế thị trường. Đồng thời Nhà nước giảm dần và hạn chế các mệnh lệnh hành chính trong việc điều hành nền kinh tế. Cùng với những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước, vai trò của nghề luật sư và nhiều nghề khác trong xã hội từng bước được nâng cao, đóng góp không nhỏ vào sự đổi mới chung của đất nước.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, ngày 18-12-1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh tổ chức luật sư. Từ đó, các tổ chức luật sư chuyên nghiệp ra đời thay thế các hình thức Bào chữa viên được thiết lập ở miền Bắc từ năm 1949 và ở miền Nam sau ngày giải phóng năm 1975. Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 đã xác lập vị trí pháp lý của nghề luật sư trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Những quy định của pháp lệnh này đã tạo nền tảng pháp lý cho việc thành lập các Đoàn Luật sư trên toàn quốc, thông qua đó tập hợp đội ngũ Luật sư tham gia vào các hoạt động tư pháp, cung cấp dịch vụ pháp lý cho xã hội.
Đoàn Luật sư vừa đóng vai trò là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, vừa đóng vai trò là tổ chức hành nghề luật sư. Pháp lệnh luật sư năm 2001 là bước tiến về thể chế của nghề luật sư ở nước ta. Các chế định về Luật sư, nghề luật sư, tổ chức hành nghề Phần 1: LUẬT SƯ, TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, TỔ CHỨC XÃ HỘI. ♦ 23 luật sư và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư đã được hoàn thiện hơn, trong đó đã phân định rõ tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.
Những quy định này đã tạo cơ hội cho nghề luật sư phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kế thừa và hoàn thiện Pháp lệnh luật sư năm 2001, việc Luật luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Sau đây gọi tắt là Luật luật sư) ra đời là cột mốc đánh dấu sự phát triển về thể chế của Luật sư, nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở nước ta trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua. Việc ban hành Luật luật sư là minh chứng về mặt pháp lý ghi nhận những quan hệ xã hội có liên quan tới Luật sư và nghề luật sư.