CHƯƠNG 1 SÁNG TÁC CỦA THU BỒN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM 1945-1975 1. Cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật 1. Khái niệm Cảm hứng là một thuật ngữ đã được sử dụng từ xa xưa. Tuy nhiên cho tới bây giờ khái niệm cảm hứng vẫn chưa được thống nhất.
Ở phương Tây các triết gia cổ Hi Lạp đã dùng từ “Cảm hứng” để chỉ trạng thái tình cảm nồng nàn, mãnh liệt và sau này đến thời Hêghen và Bêlinxki cũng đã dùng từ “Cảm hứng” như một thuật ngữ thông dụng nhằm chỉ “trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn cho việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả” [18, tr. Theo đó, nhà văn chiếm lĩnh được điều đó từ lý tưởng xã hội của bản thân nhà văn để phát triển và cải tạo thực tại đang diễn ra. Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số cách lí giải về cảm hứng như: Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) định nghĩa: Cảm hứng là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt trong tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [13, tr. Trong cuốn Lí luận văn học của tập thể tác giả do Phương Lựu chủ biên cho rằng: “Cảm hứng sáng tác là một thứ vô thức phi lý mà nhà văn không tự giác được”, “Cảm hứng là một trạng thái tâm lý căng thẳng nhưng say mê khác thường.
Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh, sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn” [18, tr. Theo tác giả Nguyễn Khắc Sính: Cảm hứng (tiếng Hi Lạp cổ; Pathas, một tình cảm sâu sắc và nồng nàn). Chỉ trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn 8 do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh này bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội mà nhà văn phát triển và cải tạo thực tại xã hội” [25, tr.
Do đó ta thấy rằng cảm hứng là một trạng thái tâm lý bao trùm trong sáng tác. Là yếu tố giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình sáng tác, nó chi phối và có ảnh hưởng rất sâu sắc tới nội dung tư tưởng của tác phẩm và thể hiện được phong cách của nhà văn. Tác giả Nguyễn Quýnh khi bàn về cảm hứng cho rằng: “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như gió. Gió thổi tới sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào.
Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nín được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên, giấy mực. Gió không bám vào chỗ nào nhất định, hứng cũng biến động, không ở yên; mỗi cái tuy ở hướng Đông, Tây, Nam, Bắc mà buột ra rất nhanh. Người làm thơ không thể không có gió vậy. Có người nói: Tâm người ta như chuông, như trống; hứng như chầy và dùi.
Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông, trống khiến chúng phát ra tiếng; hứng đến khiến người ta bật ra thơ, cũng tương tự như vậy” [23, tr. Nhìn chung, các khái niệm, ý kiến trên dù xét ở mức độ khái quát hay cụ thể thì đều đi đến khẳng định cảm hứng là trạng thái tâm lí đặc biệt khi có cảm xúc và là sự phấn hứng cao độ để kích thích sự sáng tạo của chủ thể sáng tác. Cảm hứng là một hiện tượng độc đáo, nó thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả và góp phần khẳng định phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn. Những biểu hiện của cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật Cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật là sự giải tỏa những cái ẩn ức đang dồn nén trong lòng, muốn bộc lộ những suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình trước vấn đề của xã hội mà người nghệ sĩ muốn bày tỏ.
Vì thế, cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật được biểu hiện ở nhiều khía cạnh. Cảm hứng bắt nguồn từ cuộc sống: “Ý đồ sáng tác được khơi nguồn muôn màu, muôn vẻ. Tất nhiên phải kể trước hết đó là những niềm xúc động 9 trực tiếp trước một con người hay sự kiện mang ý nghĩa lớn lao trong cuộc sống” [18, tr. Bởi vậy, cuộc sống bên ngoài là nhân tố trực tiếp, quan trọng góp phần ươm mầm vun đắp tạo nguồn cảm hứng dồi dào cho người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật.
Chẳng hạn trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh, người đã sáng tác dựa trên nền cuộc sống hiện thực. Mỗi bài thơ đều là những bức tranh hiện thực của cuộc sống hằng ngày nơi mà bác bị đày ải. Ngay tiêu đề của tập nhật kí đã thể hiện rất rõ, đó là những trang nhật kí được viết bằng thơ, là những gì mà vị lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tai nghe mắt thấy tất cả những cảnh đời từ một tiếng khóc của đứa trẻ trong tù, người vợ thăm chồng, một bác phu đường…cũng đã tác động tạo thành nguồn cảm xúc dâng trào giúp bác viết nên những vần thơ, dòng nhật kí rất thực, thấy được cả sự thực cuộc sống của những người dân Trung Quốc và chế độ lao tù dưới thời Tưởng Giới Thạch. Cảm hứng biểu hiện ở hệ vấn đề: Trong sáng tác văn chương không phải tác phẩm nào cũng mang một hệ tư tưởng lớn, đạt đỉnh cao.
Hay nói cách khác, không phải người nghệ sĩ nào khi sáng tác tác phẩm của mình đều là những tác phẩm đạt đỉnh cao, tuyệt mĩ. Những tác phẩm đã trở thành những kiệt tác nghệ thuật bất hủ là những tác phẩm mang hệ tư tưởng lớn, đã được tác giả đăm chiêu, say mê, nghiền ngẫm thành máu thịt của mình để rồi tác phẩm đó trở thành kiệt tác bất hủ để đời. Như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chiến tranh và hòa bình của L.tostoy…Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học của Pôpêlôp cho rằng: “Hệ vấn đề của tác phẩm văn học có thể phản ánh những mặt khác nhau của đời sống xã hội. Nó có thể mang tính chất đạo đức, tính chất triết học, tính chất xã hội, tính chất tư tưởng - chính trị(…)điều này phụ thuộc vào chỗ nhà văn chú ý nhấn vào những mâu thuẫn nào, những phương diện nào của các tính cách” [24, tr.
Tác phẩm Người mẹ của M.Gooky chủ yếu tập trung vào phương diện chính trị trong đời sống và hoạt động của các nhân vật, vào cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng lao 10 động với chính quyền chuyên chế với thế lực phản cách mạng và bọn can thiệp. Nhìn chung, trong nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học, hệ vấn đề đóng một vai trò rất quan trọng, nó được xem là mặt năng động, là yếu tố quyết định ý đồ miêu tả tình cảm và quan hệ nào đó của nhà văn. Cảm hứng biểu hiện ở ngôn ngữ, giọng điệu và các thủ pháp nghệ thuật khác: Khi viết về cảm hứng sử thi các nhà văn, nhà thơ thường sử dụng ngôn ngữ đơn thanh đầy cảm xúc “trữ tình rưng rưng hào sảng”, giọng văn sử thi với sự trang nghiêm thiên về ngợi ca, ngôn ngữ giàu hình ảnh mang tính biểu tượng cao. Ngôn ngữ và giọng điệu gắn bó trong quan hệ tương hỗ để thể hiện chất hùng tráng của sử thi.
Đó là giọng điệu trữ tình ngợi ca ngưỡng mộ, gắn bó với cảm hứng anh hùng, cảm hứng lãng mạn và ngôn ngữ giàu chất thơ. Cảm hứng sử thi luôn hướng tới những xung đột lớn của lịch sử. Thế giới nhân vật phân tuyến, đối lập luôn tìm đến kiểu kết cấu tương ứng và phù hợp với nó. Đó là tuyến chính diện - phản diện, tích cực - tiêu cực.
Đây là loại hình nhân vật có phẩm chất định sẵn. Nếu phẩm chất nhân vật có dấu ấn sử thi thì ngoại hình mang tính cá thể hóa của nó lại mang dấu ấn tư tưởng với sự bình dị đời thường. Cùng với những thủ pháp được tác giả cường điệu hóa nhằm làm nổi bật hình tượng nhân vật, những biểu tượng cao đẹp của cộng đồng, của dân tộc. Bản thân cuộc sống rất phong phú và đa dạng, nó hàm chứa bao điều tốt, xấu, bi hài…vì thế, tương ứng với những điều đó là các dạng thức của cảm hứng đó là cảm hứng bi kịch, cảm hứng anh hùng, cảm hứng kịch tính…để chứa đựng, miêu tả các tính chất của cuộc sống.
Chẳng hạn khi viết về cảm hứng bi kịch trong dòng văn học Việt Nam 1945-1975, tiêu biểu có Nguyễn Quang Sáng với tiểu thuyết Đất lửa. Tác giả đã tái hiện lại một cách sinh động về hiện thực chiến tranh, hiện thực đất nước ta thông qua các bi kịch về gia đình, về bạn bè, đồng đội, bi kịch về tình yêu đôi lứa mà bao trùm lên tất cả là bi kịch lịch sử - xã hội. Nguyễn Quang Sáng đã miêu tả những 11 mâu thuẫn, xung đột đối kháng về giai cấp, tôn giáo giữa các phe phái đã làm tăng yếu tố kịch tính cho tác phẩm. Nguyễn Quang Sáng đã mạnh dạn và rất dụng công trong việc mô tả những xung đột, những mâu thuẫn đối kháng đó của dân tộc ta một thời, đặc biệt là vấn đề rất nhạy cảm: mối quan hệ giữa cách mạng - tôn giáo, với dòng chảy văn học của giai đoạn trước 1945, các nhà văn đi sâu vào khai thác bi kịch của cá nhân, của người tri thức trước cuộc sống khi mà họ bị “miếng cơm manh áo ghì sát đất, tầm thường hóa nhân cách”, bi kịch Vỡ mộng của những người đi sâu vào cuộc sống sống mòn, chết mòn.
Đến Nguyễn Quang Sáng bi kịch của Văn học Việt Nam có dịp chuyển mình, phong phú hơn, đặc sắc hơn, tiêu biểu hướng đến những vấn đề hết sức tế nhị của lịch sử dân tộc. Nguyễn Quang Sáng sở dĩ đã viết nên những trang văn hết sức xung đột, mâu thuẫn nội bộ cách mạng và tôn giáo như vậy bởi lẽ bản thân ông cũng là một nhà văn quân đội, đi ra từ cuộc sống kháng chiến chống pháp gian khổ của dân tộc. Bản thân ông cũng đã có những phút giây khó khăn, những trải ngiệm về xung đột. Đó đã là nguồn khơi gợi cho cảm hứng bi kịch trong tư tưởng Đất lửa được thăng hoa.
Hay khi viết về cảm hứng anh hùng, các nhà văn đã khẳng định chiến công lớn lao của cá nhân, tập thể.