CHƯƠNG 1: CAI TÔI TRU TINH ĐỀ N VẤ đc tôi trữ tình là một phạm trù rất quan trọng cha thi pháp: học hiện đại. Luận văn xin để cập đến cái tôi bằng cách tiếp cận thơ trữ tình từ góc độ tính chủ quan như nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật và chiếm lĩnh đời sống, trong đó cái tôi trữ tình xem như bản chất chủ quan của thể loại nhằm tìm hiểu đặc trưng thơ trữ tình. I, Kha t Cho tới ngày nay trên thế giới đã có khoảng hơn 200 định nghĩa về thơ, nói chung ý kiến mà các nhà lí luận đưa ra đều có hạt nhân xác đáng nhưng chưa dừng lại ở một khái niệm cụ thể. Vấn dé nan giải còn ở phía trước, song chúng tôi cũng xin điểm qua một vài khái niệm tiêu biểu về thơ trữ tình làm cơ sở cho bài viết của mình, Với Hêghen — nhà triết học nổi tiếng Đức — thì “Thơ là trạng thái nội cảm” và trong tác phú,n Mỹ học (tập 4) ông đã nhận định về ban chất thơ trữ tình như sau : “Nguồn gốc và điểm tựa của thơ trữ tình là ở chủ thể.
và chủ thể là người duy nhất, độc nhất mang nội dung”. Còn nhà lí luận Nga Bêlinski cho rằng: “Thơ trữ tình là vương quốc vô hạn của tỉnh thần, là thế giới nội tâm, là thực tại bên trong của tâm hồn con người” và khẳng định : “Toàn bộ hiện thực đều có thể là nội dung của thơ trữ tình, nhưng với điều kiện là nó phải trở thành sở hữu máu thịt của chủ thể, là bộ phận cảm giác của chủ thé, gấn lién với sự hoàn chỉnh của chủ thể". Nhà thi pháp học Jakobsơn nói : “Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mĩ của nó; còn nhà lí luận Pôxpelôp thì “Thơ là độc thoại nội tâm". Khác hơn trong cách nói của mình, ba nhà lí luận Mỹ 1 ld he link hong the Nguyin Bink 12 hậu sửn leh righty Vete Hear Shi Thosng (Barener, Burto, Berman) cùng khẳng định: Nghe thơ là “nghe trộm nhà thơ” nói bằng chính tiếng lòng nhà thơ.
Viên Mai — nhà lí luận cổ Trung Hoa trong “Tùy viên thi thoại” coi sự thể hiện cá nhân là gốc của thơ trữ tình : "Gốc của thơ là ở chỗ miêu tả cảnh ngộ của tính tình v3 linh cảm cá nhân”. Nhà thơ Xuân Diệu cho thơ là cảm xúc, dồn nén lại, kết tinh lại và sau đó đọng thành hình, vang lên thành tiếng, ngân lên thành nhạc. Nếu Xuân Diệu hiểu cái tôi trữ tình là bản chất của chủ thể thì Hà Minh Đức lại hiểu nó dưới góc độ xã hội học và triết - mỹ học : Thơ trữ tình là khái niệm mang bản chất thể loại trữ tình, biểu hiện qua nhân vật trữ tình, Cái tôi trữ tình là nội dung, là đối tượng của thơ ca. Riêng chúng tôi thấy bản chất thơ trữ nh phải được nhìn nhận dưới góc độ chủ thể và như là một hiện tượng nghệ thuật, Cái tôi trữ.
tình phải là hạt nhân cấu trúc hình tượng tác gid, hình tượng của nhân vật thì nó mới được tiếp nhận trên bình diện thi pháp học hiện đại. Vậy có thể quan niệm thơ trữ tình là độc bach thế giới tinh thin đặc thù của cái tôi trữ tình nhà thơ. Nó được mã hóa bởi ngôn từ độc bạch, được cấu tạo bởi hình tượng trữ tình độc đáo; và rất giàu nhạc tính. Lo thuyết về cái tôi trữ tình : 1) Cái tôi tổng thể.
Cái tôi là biểu hiện của ý thức về con người cá nhân, cái tôi xuất hiện rất sớm — khi con người thoát ra khỏi “vô thức tập thể” của một công đồng bẩy đàn, và cuộc vật lộn của ý thức cá nhân để thoát ra khỏi “vô thức tập thé” ấy vẫn kéo dài đến tan bây giờ. Cité lt tut link trong the Ngrayin Birk 13 Lun săn tél nghitp Veting Shi Thee Hanh Như vậy cái tôi là “bản ngã đích thực của con người”. Theo quan niệm của Freud — nhà phân tâm học người Áo — cái tôi được hiểu như sau : "Thứ nhất là cái tôi vô thức (hay còn gọi siêu tôi). Thứ hai là cái tôi tiểm thức chính là ngưỡng để đạt tới cái siêu tÔI.
'Thứ ba là cái tôi ý thức xã hội, giai cấp. Theo Giáo sư Trần Dinh Sử cái tôi trữ tình trước hết gắn liển với cấu trúc nhân cách, rồi trên bình diện xã hội, lịch sử mới liên quan tới phạm trù xã hội. Bakhtin đã tạo ra một triết học nhân bản, một luận thuyết vé con người như một bản ngã sinh tổn trong và bằng sự tiếp xúc với các bản ngã khác, với cộng đồng bản ngã. Theo Phật giáo: “ACH * (đại ngã) hay “ASK * (bản ngã) là cái tôi cá nhân.
Dé hướng tới cái vô Ngã trong cdi Phật người ta luôn phủ nhận Ngã của bản thân. Vì thế họ phải trải qua quá trình biện chứng diễn ra trong tâm thức mình, không thể tránh được như một nghịch lý càng hướng tới vô Ngã thì ý thức về Ngã càng mạnh. Điều ấy đã khẳng định mỗi con người là một tổng thể, có rất nhiều con người trong một con người. Hay cụ thể hơn, cái tôi chính là một tổng thể bao gồm nhiều cái tôi : tôi tự nhiên (tôi sinh lý); tôi tân lý xã hội ; và tôi nhân cách (K.Mác , nhà triết học Trần Đức 1.ảo cho rằng : có một cái tôi lệ thuộc điểu kiện giai cấp nhằm thể hiện tính giai cấp trong mỗi cá nhân, và một cái tôi nhân cách khẳng định sự tổn tại của con người trong con người.
Giữa hai cái tôi có mối quan hệ chặt chẽ, cái tôi „lai cấp là quá độ của cái tôi nhân loại. Bởi mục đích của chủ Cai lst tut links đong the Nguuyén Bink 14 #kuận văn (G7 nghifp Veamg Thy Thue Harsh nghĩa Cộng sản làm Cách mạng dé xóa bỏ giai cấp và hoàn thiện nhân cách, từ đó xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa không còn giai cấp bóc lột, không còn cảnh người bóc lột người, bình đẳng bác ái. và là thiên đường của nhân loại. Song nhân cách của mỗi cá nhân không dễ gì hoàn thiện vì đó là phần người trong mỗi con người “hạt nhân nhân cách không kết thúc ở con người ".
Xây dựng cái tôi cá nhân - nhân cách vừa là mục tiêu vừa là qui đạo nhân bản của văn học, Cái tôi cá nhân - nhân cách vì thể được hiểu là khái niệm cấu trúc nhân cách phổ quát chỉ phương diện trung tâm của tỉnh thần, cốt lõi của ý thức. Nó có khả năng chỉ phối ngôn từ, hoạt động của con người. Nó là hiện hiện văn hóa xã hội — lịch sử. Nó là biểu hiện tập trung cái chủ quan trong cấu trúc nhân cách.
2) Cái tôi trữ tình. Cái tôi trữ tình là một hiện tượng nghệ thuật khác với cái tôi trong đời sống .Nó là cái tôi ngoài đời đà được nghệ thuật hóa , trữ tình hóa. Vậy cái tôi trữ tình là thế giới tịnh thần, thế giới chủ quan của nhà thơ đã được thể hiện trong thơ trữ tình bằng các phương tiện trữ tình. Thế giới thơ kéo dài tiếng nói đơn lẻ một kiếp người, khiến tiếng nói riêng của nhà thơ hòa chung với tiếng nói của cuộc đời.
“Dau đứn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cÑng là lời chung. (Truyện Kiều -Nguyễn Du) Nhà thơ sáng tác trước hết là cái tôi xã hội, giai cấp và sau đó là cái tôi nhân cách. Nhà thơ tích cực luôn sang tạo bằng toàn bộ nhân cách của minh, Đối tượng của thơ không chỉ nhập vào, hóa thân vào chủ thể, nó còn mang cả sinh mạng của chủ thể, bản chất của chủ thể. Ce lia Ác lin đong (Ác Nguyin Bink 15 Luin wir lil rghit Veamg Shp Thus Hanh Cái tôi trữ tình là cái tôi độc bach, là GEng nói trực diện, trực tiếp toàn quyền của nhà thơ.
Nó không những không bị cô lập mà còn trở thành tiếng nói chung. Khi có diéu kiện trữ tình (tập trung cảm xúc, nhu cầu giải tỏa .) thì thế giới nội tâm tinh thần nhà thơ được mã hóa bằng hệ thống kí hiệu ngôn từ, ẩn dụ, biểu tượng, nhạc điệu. Hay nói khác đi ngôn ngữ bên trong đã được biểu hiện bằng ngôn ngữ bên ngoài là ngôn từ nghệ thuật, hình tượng, nhạc tình. Ở đây khi ý đổ tâm tưởng tìm đến các biểu tượng, các cấu trúc của âm thanh tức cũng có nghĩa đã xảy ra hoạt động sáng tác trữ tình.
Lời nói bên trong trầm tư đã thành động tác "ầm tư trữ tình”. Hoạt động sáng tác xảy ra trên sự vận động của “dong ý thức ”, của sự tổ chức bên trong (U. Thao tác tư duy trữ tình này về nguyên tắc dựa trên cơ sở hoạt động của “dong ý thức”. Dòng ý thức là biểu hiện rõ nhất của bí mật "độc thoại nội tâm” (tiếng nói bên trong).
Về bản chất nó phù hợp với cơ chế sáng tác trữ tình. Dòng ý thức chính là cơ sở của tư duy nghệ thuật trữ tình. Nó được xây dựng bằng nhiều thao tác cất xén, tỉnh lược, nội cảm hóa thế giới bằng những cảm giác độc đáo, nối lién, liên kết những cái xa cách, gắn những yếu tố không gian, thời gian, tạo dựng quan hệ đối đáp, giải thích. Toàn bộ cơ chế hoạt dộng sáng tác nói chung và trữ tình nói riêng déu dựa trên sự tưởng tượng.
Chính tưởng tượng đã giúp cho cảm xúc, tư tưởng được mã hóa thành ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu. Tóm lại, những điều đã nói ở trên là sư thể hiện cơ sở chủ quan của hình thức thơ trữ tình. Hình thức mang tính chủ thể, hoặc mang tính nội dung. Khi phân tích hình thức thơ phải chú trọng cái chủ quan, * - Z*® as “ chủ thể, cái tôi nằm trong đó.
Cae lit het link hong the Nguyin Bink 16 Luin săn él «m Hanh Thi Thuse Bởi vay, thế giới trữ tình riêng của một tác giả, tác phẩm thời đại bao giờ cũng được và cũng chịu sự qui định của quan niệm nghệ thuật riêng của từng tác giả. Rõ ràng chỉ ở cấp độ quan niệm nghệ thuật riêng thì mới thấy sự hiện diện sắc nét, rõ rệt của cái chủ quan, của cái tôi cụ thể. 3) Bản chất xã hội - tâm lý của cái tôi trữ tình: Bản chất tự ý thức của cái tôi trữ tình cho phép giải thích nội dung phong phú, rộng lớn của thơ trữ tình. Từ điển Tam lí học (M.1983) định nghĩa: cái tôi là kết quả của việc con người tách mình ra khỏi môi trường xung quanh, cho phép con người cảm thấy mình như một chủ uiỂ.