mở đầu: là những TN đơn giản về dụng cụ và về quá trình thực hiện. Về thời gian chúng chỉ chiếm khoảng từ 1 đến 2 phút vào đầu tiết học. Mục đích của loại TN này là nhằm tạo ra một hiện tượng vật lí. Từ đó đặt ra cho học sinh một vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết trong lớp học.
Một mục đích khác của loại TN này là nhằm kích thích học sinh hứng thú giải quyết vấn đề. - Thí nghiệm nghiên cứu: Là những TN có mức độ và qui mô lớn (Trong phạm vi dạy học) về thiết bị, hệ thống các thao tác và thời gian. Chúng thường chiếm phần lớn thời gian của tiết học trên lớp, hoặc phải tiến hành trên phòng TN với các thiết bị đặc biệt. Mục đích của TN là tác động trực tiếp lên đối tượng để nghiên cứu những thuộc tính vật lí của chúng hoặc tìm ra các quy luật vật lí.
Trong loại TN này, người ta còn phân biệt hai loại là thí nghiệm khảo sát và thí nghiệm kiểm chứng – minh họa. + Thí nghiệm khảo sát: Là loại TN được tiến hành theo con đường qui nạp. Từ những kết quả của nhiều lần TN, trong cùng những điều kiện nhất định mà khái quát hóa thành một kết luận chung cho các hiện tượng cùng loại. 9 + Thí nghiệm kiểm chứng minh họa: Là loại TN được tiến hành theo con đường diễn dịch.
Những kết quả của các TN này sẽ kiểm chứng hoặc minh họa cho những kết luận rút ra theo con đường tiên đề hoặc là từ những suy luận toán học, từ những giả thuyết. - Thí nghiệm củng cố: Là loại TN trình bày những ứng dụng của vật lí vào trong khoa học, kĩ thuật và đời sống hoặc nhưng TN thể hiện những hiện tượng vật lí đã học. Mục đích của TN này là để học sinh thấy được vai trò của vật lí trong thực tế và để vận dụng lí thuyết đã học vào việc giải thích chúng, qua đó nắm vững kĩ năng vật lí. Kĩ thuật và phương pháp tiến hành biểu diễn: [7] - Kĩ thuật tiến hành thí nghiệm biểu diễn: + TN phải được đặt đúng cách.
+ Phải tìm cách đánh dấu và làm nổi bật những đại lượng thay đổi để học sinh có thể theo dõi được. + Phải làm cho toàn bộ học sinh theo dõi được các dụng cụ và tiến hành TN. + Phải cho học sinh theo dõi được số chỉ của các dụng cụ đo. + Phải cho học sinh thấy được sự thay đổi của các đại lượng phụ thuộc sự thay đổi yếu tố nào của TN.
- Phương pháp tiến hành: + Bước 1: Nêu rõ mục đích và phương hướng tiến hành TN. + Bước 2: Vạch rõ kế hoạch TN. + Bước 3: Giới thiệu dụng cụ và lắp đặt TN. + Bước 4: Kiểm tra toàn bộ TN trước khi tiến hành.
+ Bước 5: Tiến hành TN theo kế hoạch đã định. + Bước 6: Phân tích kết quả và rút ra kết luận. + Bước 7: Tổng kết TN.2 Thí nghiệm thực hành [7] Là phương pháp dạy học vật lí trong đó giáo viên tổ chức và hướng dẫn cho học sinh thực hành các TN vật lí nhằm mục đích tác động trực tiếp lên đối tượng vật lí để nghiên cứu chúng. 10 Các TN thực hành cũng có thể là những TN nghiên cứu trong vật lí, cũng có thể là những TN lịch sử nhưng đã được cải biến và nhiều TN do các nhà sư phạm thiết kế nhằm mục đích tổ chức học tập cho học sinh.
Các loại thí nghiệm thực hành: + Thí nghiệm thực hành trên lớp: Là loại TN do học sinh thực hiện trên lớp học, trong giờ học, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm mục đích nghiên cứu một kiến thức vật lí mới. + Thí nghiệm thực hành trên phòng thí nghiệm: Là các TN do học sinh thực hiện trên Các phòng TN vật lí của nhà trường với thời gian nhiều hơn, từ một đến hai tiết học. Điểm khác biệt của loại TN này là học sinh trước khi tiến hành TN đã nắm được cơ bản những vẫn đề lí thuyết và hệ thống thao tác nên tự chủ và nâng cao hơn được khả năng hoạt động độc lập cũng như phát triển được tư duy hơn. + Thí nghiệm thực hiện ở nhà: là loại TN do học sinh thực hiện ở nhà dưới sự hướng dẫn trên lớp của giáo viên.
Các loại TN này chủ yếu là quan sát, định tính vì học sinh không thể tự làm các TN định lượng nếu không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.3 Thí nghiệm tự tạo Trong quá trình nghiên cứu thiết kế, chế tạo và sử dụng TNTT, các tác giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về TNTT. Theo tác giả Hans-Joachim Wilke (Đức) “Thí nghiệm tự tạo là những thí nghiệm được dùng trong dạy học vật lí và được tự tạo ra với những vật liệu và dụng cụ phổ biến trong đời sống hằng ngày”. cho rằng: “Thí nghiệm tự tạo là những thí nghiệm được tạo ra với phương tiện chủ yếu là bàn tay với những vật liệu trong đời sống hằng ngày”. [23,24] Theo tác giả Lê Cao Phan: “Thí nghiệm tự làm là thí nghiệm do giáo viên hoặc học sinh thực hiện bằng các nguyên vật liệu dễ tìm kiếm, rẻ tiền, sẵn có ở địa phương, phù hợp với hoàn cảnh của nhà trường và học sinh”.
[8] 11 Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, khái niệm TNTT đã được phát triển. TNTT không chỉ được tạo ra bằng những nguyên vật liệu rẻ tiền, có sẵn mà có thể được tạo ra từ những thiết bị, linh kiện điện tử tinh vi. Theo tác giả Nguyễn Hoàng Anh: ―Thí nghiệm tự tạo là những thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp được tạo ra chủ yếu bằng tay từ những nguyên vật liệu thiết bị, linh kiện phổ biến trong đời sống hằng ngày và được sử dụng trong quá trình dạy học”. [9] Phân loại thí nghiệm tự tạo: [9] + Thí nghiệm tự tạo đơn giản: Là những TN được tạo ra từ những vật liệu, dụng cụ thông dụng dễ kiếm như: vỏ lon, gỗ,… TNTT đơn giản thường là những TN định tính.
+ Thí nghiệm tự tạo phức tạp: Là những TN được tạo ra từ các dụng cụ thông dụng nhưng có quá trình gia công, chế tạo dụng cụ TN phức tạp hơn so với TNTT đơn giản. + Thí nghiệm tự tạo hiện đại: Là những thí nghiệm được tạo ra trong đó có sử dụng các loại thiết bị và linh kiện điện tử hiện đại như: vi điều khiển, mạch điện tử, bo mạch,… Những TN này thường là những thiết bị tự động. Các yêu cầu đối với việc tự tạo thí nghiệm [9] - Về mặt khoa học + Các TNTT được xây dựng phải đảm bảo khi tiến hành TN phải thành công, tạo ra hiện tượng rõ ràng, đúng với bản chất vật lí và điều khiển được các yêu tố tác động. + Quá trình thiết kế, chế tạo cần ứng dụng các thành tựu mới trong khoa học; có câu tạo gọn nhẹ, thuận tiện trong quá trình sử dụng (tháo lắp, bố trí và tiến hành TN); Đảm bảo an toàn trong sử dụng, dễ sửa chữa, bảo quản và vận chuyển.
Về mặt sư phạm + TNTT có thể được sử dụng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình dạy học như: sử dụng trong đề xuất vấn đề nghiên cứu, sử dụng trong hình thành kiến thức mới và sử dụng trong củng cố, vận dụng kiến thức. + Kết quả của TNTT phải gắn liền với nội dung bài học, xuất hiện đúng lúc trong tiến trình DH, đồng thời kết quả TN phải được sử dụng cho mục đích DH một cách hợp lí, logic và không gượng ép. Về mặt thẩm mĩ 12 + Các dụng cụ TNTT phải có kích thước đủ lớn, đảm bảo cho cả lớp quan sát nhằm giúp cho HS dễ theo dõi diễn biến của TN để có thể rút ra được những kết luận cần thiết. TN phải có màu sắc thích hợp và hình dáng đẹp đẽ lôi cuốn sự chú ý của HS, đặc biệt là cần làm nổi bật bộ phận cần quan sát.
Quy trình tự tạo TN trong dạy hoc vật lí [9] - Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học. - Bước 2: Nghiên cứu nội dung bài học. - Bước 3: Tìm hiểu thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị TN. - Bước 4: Đề xuất, lựa chọn phương án TN.
- Bước 5: Chuẩn bị các vật liệu, dụng cụ và linh kiện cần thiết. - Bước 6: Gia công, chế tạo dụng cụ TN. - Bước 7: Lắp ráp TN. - Bước 8: Tiến hành TN.
- Bước 9: Hoàn thiện TN.4 Các thí nghiệm ứng dụng trong dạy học chƣơng “Nguyên tử hạt nhân”.1 Buồng sương Wilson 1.1 Cơ sở khoa học [10] - Cơ sở khoa học để tạo ra thiết bị này là kết quả công trình nghiên cứu sự tạo thành những đám mây hay sương mù. Trước Wilson, trong các điều kiện phòng TN, người ta đã chỉ ra rằng hơi bão hòa có thể bị ngưng tụ và tạo thành những giọt chất lỏng, nếu trong thể tích đã cho có các tâm ngưng tụ. - Wilson đã chỉ ra rằng các ion có thể là tâm ngưng tụ của hơi bão hòa. Hơn nữa các giọt chất lỏng đươc tạo thành sẽ phát triển đến kích thước nhìn thấy được.
Có thể quan sát và chụp ảnh được chúng một cách dễ dàng.2 Lịch sử thí nghiệm [11] Năm 1897, Wilson chứng minh được rằng trong những điều kiện xác định, mỗi ion tích điện đều trở thành tâm ngưng tụ hơi nước. Vì thế có thể nhận ra sự hiện diện của các ion bằng mắt thường. Đầu năm 1911, Wilson là người đầu tiên nhìn thấy và chụp ảnh vết của các hạt alpha, beta và các electron riêng biệt. Từ những lý thuyết trên, năm 1912 ông đã phát minh ra một dụng cụ để theo dõi và chụp ảnh các vết của điện tích (sau này được gọi là buồng Wilson).
13 Buồng Wilson còn được gọi là buồng sương. Theo lời của nhà vật lí người Anh Ernest Rutherford, buồng sương là một ―dụng cụ độc đáo và đáng ngạc nhiên nhất‖ để ghi lại hoạt động của các hạt. Các nhà khoa học giải thích rằng để tạo ra sương cần có các tâm ngưng tụ. Wilson phát hiện ra rằng các tâm ngưng tụ của hơi nước có thể là các ion tạo thành khi hơi nước bão hòa bị chiếu rọi bởi các tia X hoặc các bức xạ khác như các tia alpha, beta và gamma.
Sau khi tiến hành nghiên cứu trong nhiều năm, ông đã chế tạo ra một dụng cụ có thể ghi nhận các hạt. Đến năm 1923, buồng sương được hoàn thiện và dẫn đến có hai bài báo kinh điển của ông về vết của các electron.