Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. PHAN NỘI DUNG Được kết cấu thành hai chương với nội dung cụ thể như sau: Chương |: Những vấn dé chung về thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự. Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thu thập chứng cứ và một số kiến nghị, biện pháp nhằm hoàn thiện, đảm bảo thực hiện hiệu quả quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thu thập chứng cứ. CHUONG | NHUNG VAN DE CHUNG VE THU THAP CHUNG CU TRONG TO TUNG HINH SU 1.
Khai niệm thu thập chứng cứ 1. Chủ thể thu thập chứng cứ Một quan hệ PLTTHS bao giờ cũng được cấu thành bởi ba yếu to do là: Chủ thể, khách thé và nội dung. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, rất nhiều loại quan hệ PLTTHS được hình thành. Sự đa dạng của các mồi quan hệ nay bị chi phối bởi sự đa dang trong từng yếu tố cau thành nên nó.
Biéu hiện ra bên ngoài của quan hệ PLTTHS là hoạt động TTHS được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thê nhất định. Thu thập chứng cứ là một dạng hoạt động TTHS được hình thành trong một quan hệ PLTTHS nhất định. Do vậy, cũng như các hoạt động TTHS khác, ngoài 2 yếu tố khách thé và nội dung, nó còn có yêu tố chủ thé với tư cách là người thực hiện nó. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thé trở thành chủ thé của hoạt động nay ma cần phải có sự thừa nhận của PLTTHS vẻ quyền và nghĩa vụ trong việc thu thập chứng cứ va có khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ ấy.
Như vậy, chu thé thu thập ching cứ là một hoặc một số người được PLTTHS quy định có quyên và nghĩa vụ thực hiện việc thu thập chứng cứ và có kha năng thực hiện quyên và nghĩa vụ này. Tổng quát các mô hình TTHS trên thé giới, có thể thấy quan điểm về chủ thể thu thập chứng cứ ở các giai đoạn lịch sử khác nhau trong các kiểu TTHS khác nhau là không đồng nhất. Tén tại trong lịch sử TTHS có bốn kiểu TTHS, đó là: Kiểu TTHS cáo buộc; kiểu TTHS xét hỏi; kiểu TTHS tranh tụng; kiểu TTHS xét hỏi- tranh tụng (kiểu TTHS pha trộn). Trong kiểu TTHS cáo buộc, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về người tô cáo và người bị tô cáo.
Do vậy, để bảo vệ lợi ích cho mình, các bên tham gia đều tự phải thực hiện việc thu thập chứng cứ. Nhà nước chi chủ động, tích cực thu thập chứng cứ trong những vụ án xâm hại tới lợi ích của giai cấp mình còn trong các trường hợp khác thì thụ động, thờ ơ, thậm chí chấp nhận việc tự xử của các bên. Trong kiểu TTHS xét hỏi, đại diện cho nha nước là quan toà giữ vai trò trọng tâm của TTHS vừa làm nhiệm vụ điều tra vừa làm nhiệm vụ buộc tội, xét xử nên việc thu thập chứng cứ chi do quan toà thực hiện. Sau nay do có sự phân công, phân nhiệm trong nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự thì việc thu thập chứng cứ được san sẻ cho CQĐT và co quan công tố.
Trong kiểu TTHS xét hỏi- tranh tụng thấm phán vẫn giữ vai trò trong việc thẩm vấn lại những chứng cứ được thu thập bởi CQĐT, cơ quan công tố ở các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng đồng thời lại tạo điều kiện cho các bên được tranh luận, đối đáp những ý kiến được đưa ra nhằm làm sáng tỏ vụ án; tiếp nhận tài liệu, đồ vật do những người tham gia tố tụng cung cấp. Trong kiểu TTHS tranh tụng, quyên thu thập chứng cứ của các bên được pháp luật thừa nhận là gần ngang nhau biểu hiện rõ nét ở việc nếu bên buộc tội, đại diện là cơ quan công tố dang sau có một lực lượng cảnh sát có quyên áp dụng mọi biện pháp điêu tra dé thu thập chứng cứ thì bên gỡ tội, đại diện là Luật sư, được sử dụng một số biện pháp điều tra nhất định, có tính khả thi cao. Toà án không thu thập chứng cứ mà chỉ đóng vai trò trung gian, như một trọng tài, không tiếp cận hỗ sơ, không tham gia thấm van mà chỉ đưa ra phán quyết trên cơ sở lập luận của các bên. Trên cơ sở nghĩa vụ chứng minh tội phạm, có thẻ phân loại chủ thể thu thập chứng cứ thành hai loại: - Chủ thể có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ (đó là các chủ thể có trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh tội phạm).
- Chủ thể có quyền thu thập chứng cứ (đó là các chủ thể không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm nhưng có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án). 9 Theo quy định của PLTTHS Việt Nam, phù hợp với đặc điểm của kiểu tố tụng thẩm vấn- tranh tụng, thuộc loại chủ thể thứ nhất bao gồm các cơ quan THTT thực hiện việc thu thập chứng cứ thông qua các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm. Ngoài ra, còn một số cơ quan khác đượcgiao nhiệm vụ tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ ban đầu như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm Lâm, lực lượng cảnh sát biển, các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; thuộc loại chủ thể thứ hai là Người bào chữa. Như vậy, ở mỗi kiểu TTHS khác nhau nói chung và ở PLTTHS ở mỗi quốc gia nói riêng có những sự ghi nhận khác nhau vẻ chủ thể thu thập chứng cứ.
Pham vi các chủ thê này có thé mở rộng cũng có thé thu hẹp tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển cụ thé của xã hội loài người, tuỳ vào cách thức tổ chức quyền lực nhà nước mà mỗi quốc gia lựa chọn, vào mức độ dân chủ trong xã hội, vào trình độ dân trí và y thức pháp luật của quần chúng nhân dân [12, tr. Điều nay làm nên sự đa dạng của pháp luật tổ hình sự trên thé giới trong quy định vẻ chủ thé thu thập chứng cứ. Nguyên tắc thu thập chứng cứ Bất kỳ hoạt động nhận thức hay hoạt động thực thực tiễn nào của con người muốn đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao thì đều cần có những phương châm, định hướng nhất định. Không phải ngẫu nhiên các phương châm, định hướng nay tổn tại sẵn trong hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn của con người mà nó là kết quả của một quá trình đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học lâu dài của xã hội loài người [2, tr.
Những phương châm, định hướng này được khoa học xã hội được gọi là nguyên tắc. Hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người trong thé giới khách quan rất đa dạng và phong phú. Chính sự đa dạng và phong phú này đã làm nên sự đa dạng và phong phú trong việc hình thành các nguyên tắc. Có thể là nguyên tắc chung điều chỉnh, chỉ phối bao trùm lên tất cả những hoạt động của con người, cũng có thê là nguyên tac riêng, nguyên tac đặc thu cho 10 một hoạt động trong một lĩnh vực riêng biệt nhất định.
Thu thập chứng cứ là một dạng của hoạt động TTHS nên nó cũng chịu sự chi phối, dẫn dắt bởi những nguyên tắc chung của PLTTHS. Ngoài ra, do có những đặc điểm riéng khác biệt so với các hoạt động tố tụng khác nên thu thập chứng cứ còn chịu sự chi phối, dẫn dắt, định hướng của những nguyên tắc riêng- nguyên tắc đặc thù. Cơ sở của việc hình thành các nguyên tắc của bất kỳ hoạt động nào cũng đều dựa trên những yếu tố chủ quan và khách quan cũng như mục đích mà hoạt động đó cần đạt được. Do đó, hoạt động thu thập chứng cứ trong TTHS, theo chúng tôi, cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Thứ nhất: Nguyên tắc pháp chế Đây là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các hoạt động của các chủ thé tham gia vào quan hệ pháp luật được pháp luật điều chỉnh.
Vận dụng nguyên tắc này vào hoạt động thu thập chứng cứ cần đáp ứng được các yêu cầu sau: - Chỉ những chủ thé được pháp luật tổ tụng hình sự quy định mới có quyên thu thập chứng cứ. - Các chủ thê thu thập chứng cứ chỉ được sử dụng những biện pháp thu thập chứng cứ do PLTTHS quy định. - Việc thu thập chứng cứ phải được tiễn hành theo trình tự, thủ tục do PLTTHS quy định. Thứ hai: Nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời có trọng tâm.
Tội phạm được thực hiện trong quá khứ, việc phát hiện nó chỉ có thể dựa vào những dấu vết đề lại trên đối tượng mà nó tác động. Có thé là dau vết vật chất như dấu bàn chân, dấu vân tay ở môi trường mà nó thực hiện, dấu vết ở những phương tiện, công cụ phạm tội hoặc dấu vết phi vật chất như trong trí nhớ của người trực tiếp tri giác nó hoặc của người được người tri giác về tội phạm kê lại. Tuy nhiên, từ khi thực hiện tội phạm đến khi tội phạm được phát hiện là một khoảng thời gian mà theo cơ chê của vật lý, hoá học, sinh học các II dau vết trên có thé thay đôi, thậm chí biến mat. Do vậy, càng rút ngăn được khoảng thời gian này và tiễn hành ngay mọi biện pháp thu thập thông tin từ những dau vết này với tính chất lả chứng cứ của vụ phạm tội thì tính toản vẹn của thông tin mới càng được đảm bảo.
Do đó, nhanh chóng, kịp thời phải được coi là một nguyên tắc của thu thập chứng cứ. Nội dung của nó thể hiện: Khi có thông tin về vu Việc có dấu hiệu tội phạm, CQDT, VKS phải kip thời tiền hành khám nghiệm hiện trường, lay lời khai của người biết sự việc phạm tội, của nạn nhân. Trong trường hợp bắt được đối tượng nghi van cũng can nhanh chóng lấy lời khai nhằm ngăn chặn sự tinh toán, đối phó dé che giấu tội phạm của đối tượng. Vật chứng là nguồn chứng cứ quan trọng do vậy cần xác định chuẩn xác ngay từ ban đầu dé có biện pháp thu giữ thích hợp, tránh sự mất mát, hư hỏng làm mắt hoặc giảm giá trị chứng minh mà nguồn chứng cứ này có thể đem lại.
Tuy nhiên, yêu câu nhanh chóng, kịp thời trong thu thập chứng cứ cũng đòi hỏi chủ thể khi tiễn hành cần hết sức thận trọng, can thận, xác định chính xác nguồn chứng cứ can thu thập. Sự cau thả trong thu thập chứng cứ có thể dẫn đến kết quả theo hai chiều hướng: Mất hoặc thiểu hụt nguồn chứng cứ; hoặc nguồn chứng cứ được thu thập quá nhiều.