Chương 1 — Giới thiệu đề tài, trình bày lý do hình thành dé tài, mục tiêu, ý nghĩa, phạm vi và phương pháp thực hiện. Chương 2 — Cơ sở lý thuyết, trong chương này các lý thuyết làm nén tang cho bài viết được tổng quát hóa và nội dung chủ yếu xoay quanh lý thuyết về FMEA, các công cụ sử dụng trong quản lý chất lượng. Chương 3 — Giới thiệu công ty va van đề nghiên cứu, cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về Công ty bao bì nhựa Thành Phú và các vấn đề chất lượng sẽ thực hiện trong đề tài. Chương 4 — Cải tiễn quy trình và chất lượng thông qua việc áp dụng FMEA.
Nội dung chính của chương gồm các phan: sử dụng FMEA để phân tích quy trình, tim ra các điểm chưa phù hợp và dé xuất biện pháp cải tiễn, đồng thời triển khai thử nghiệm các biện pháp đẻ xuất đề đánh giá hiệu quả. Chương 5 — Kết luận và kiến nghị, tong hợp lại các quả của dé tài và dé xuât các kiên nghị liên quan đền nội dung đê tai. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET 2.1 Chất lượng Chất lượng là một phạm trù rộng và phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Có nhiều cách giải thích khác nhau về chất lượng tùy theo góc độ của người quan sát.
Theo Deming (1982): “chất lượng là sự đoán trước vẻ tính đồng nhất (đồng dang) và có thé tin cậy được, tại mức chi phí thấp va được thị trường chấp nhận Theo ISO 9000:2000, “chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan” Theo Juran (1993), “ chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu và mục đích” Qua các định nghĩa nêu trên, có thể nêu lên ba điểm cơ bản sau đây: - Chất lượng sản phẩm phải là một tập hợp các chỉ tiêu, những đặc trưng thé hiện tính năng kỹ thuật nói lên tinh hữu ích của sản phẩm. - Chất lượng sản phẩm phải được thé hiện trong tiêu dùng va can xét thêm san phẩm thỏa mãn tới mức nào của yêu câu thị trường. - Chất lượng sản phẩm phải được gan liền với điều kiện cu thé của nhu cau, của thị trường về các mặt kinh tế — kỹ thuật, xã hội và phong tục. Phong tục tập quán của một cộng đồng có thé phủ định hoàn toan những thứ mà thông thường ta cho là “ có chất lượng”, có tính hữu ích cao.2 San phẩm San phâm la kêt quả của các hoạt động hoặc các quá trình, bao gôm san phầm vật chất và sản phẩm dich vụ (Tổng cục tiêu chuẩn đo lường và chất lượng) Quá trình được định nghĩa là tập hợp các hoạt động có quan hệ lẫn nhau và tương tác để bién đầu vào thành dau ra.2 PHAN TÍCH TRẠNG THÁI SAI HONG VA TÁC ĐỘNG (FMEA) Đây là nội dung lý thuyết chính được sử dụng trong dé tai, FMEA là công cụ để phân tích và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến sai hỏng, các kết quả của phân tích FMEA là cơ sở để đưa ra các giải pháp cải tiễn phù hợp.1 Khái niệm Theo Connie (2008) “Phân tích cách thức sinh ra sai sót, hậu quả và độ nguy kịch” là một cụm từ tác giả dịch từ Anh ngữ "Failure Mode, Effects and Criticity Analysis" (FMECA) và từ Pháp ngữ “Analyse des Modes de Défaillances, de leurs Effets et de leur Criticité” (AMDEC).
FMEA là một công cụ quan ly chất lượng suy diễn toàn diện dùng dé tim kiếm những nguyên nhân dẫn đến sai sót tiềm tàng, những cách bố trí hiện hành để thăm đò nguyên nhan một sai sót trước khi nó sinh ra và những tác động khử nó hay it nhất giảm hậu quả của nó. FMEA có thé ap dung cho mot san pham, một bộ phận cua san phẩm, một hệ thống me, một hệ thống con, một dịch vu, một công đoạn phục dịch, một quy trình sản xuất hay một công đoạn sản xuất. “Hệ thống” để chỉ chung những hạng mục nghiên cứu đó.2 Lợi ích của phương pháp FMEA FMEA là một công cụ giúp những kỹ sư thiết kế một hệ thống đáng tin cậy, an toàn và được người sử dụng ưa chuộng băng cách (Connie, 2008): - Quy định những đặc tính kỹ thuật cho sản phẩm để giảm thiểu những sai sót tiêm tàng và mức độ nghiêm trong của những sai sót nay. - Định giá những đòi hỏi của người sử dụng và tất cả những người tham gia dự án dé biết chắc rằng những đòi hỏi đó sẽ không sinh thêm sai sót tiềm tàng khác.
- Nhận định những đặc tính kỹ thuật có thể sinh ra sai sót tiềm tàng để loại trừ chúng hay ít ra, để giảm thiểu hậu quả của chúng. - Khai triển những phương pháp và trình tự thử nghiệm sản phẩm để biết chắc những sai sót tiềm tàng đã được loại trừ đi. - Theo dõi và giải quyết những sai sót tiềm tàng ở khâu thiết kế. - Dự đoán được hậu quả của những sai sót có thể phát sinh trong quá trình thực hiện.
Phương pháp FMEA được ap dung có hiệu quả trong những ngành công nghiệp cơ khí, lắp ráp và chế biến thuộc những loại công nghệ khác nhau (như là điện cơ, cơ khí, thủy cơ) và những hệ thống liên kết nhiều loại công nghệ khác nhau. Đặc biệt, phương pháp FMEA rất hữu hiệu khi nghiên cứu những sai sót tiềm tàng về vật liệu và thiết bị. Phương pháp này cũng có thé được dùng để nghiên cứu rủi ro những hệ thống nhập liệu và những hệ thống có tác động của con người.3 Những loại phương pháp FMEA. Vì phương pháp FMEA được áp dụng một cách da dạng có nhiều chuyên gia phân biệt nhiều loại FMEA.
Nhưng cụ thé thì phân loại như thé chỉ có tính cách han lâm vì trình tự tiễn hành của các loại FMEA đó đều tương tự như nhau. Ngoài ra, những FMEA đó có thể coi là những biến thể của những loại FMEA-Thiết kế và FMEA-Quy trình mà chúng tôi trình bay trong phan nay. FMEA-Thiét kế FMEA-Thiết kế (Design FMEA, D-FMEA hay là FMEA-D) chủ yếu chú trọng đến việc tối ưu hóa độ khả tín của sản phẩm. Vì chú trọng đến sản phẩm sẽ được chế tạo, có người gọi loại FMEA này là FMEA-San phẩm (Product FMEA).
Khi sản phẩm gồm bởi nhiều thành phan thì người ta gọi là FMEA-Thanh phan (Part FMEA) cho mỗi thành phan cơ bản. Có người còn gọi những loại FMEA này là FMEA-Dự án (Project FMEA), để nhấn mạnh ở điểm phải tiễn hành một FMEA ngay từ khi khởi đầu một dự án thiết kế sản phẩm. Mục đích của FMEA- Thiết kế là bảo đảm rang tất cả những sai sót nguy kịch tiềm tang va cách thức chúng sinh ra đã được nhận định và nghiên cứu. e© Khi tiễn hành một công trình FMEA-Thiết kế giúp chúng ta: - Định giá một cách khách quan công tác thiết kế sản phẩm.
- Định giá công tác thiết kế cho công đoạn chế tạo, lắp rap,bao tri,va phục hồi san phẩm. - Tìm cách gia tăng tỷ số những sai sót tiềm tảng được nghiên cứu ngay ở khâu thiết kế. - Cung cấp thông tin giúp cho những khâu thiết kế, khai triển và phê chuẩn tiễn hành một cách hoàn chỉnh và hữu hiệu. - Khai triển một bảng kê những cách thức sinh ra sai sót tiềm tàng, xếp hạng theo độ nguy kịch của chúng và như thế lập một thứ tự ưu tiên cho những tác động phòng ngừa và cải thiện.
- Hình thức hóa những tác động theo dõi và giảm rủi ro. - Thu thập kinh nghiệm cho những công trình thiết kế tiếp sau FMEA. e Khi tiến hành một FMEA-Thiét kế thì, ngoài những tác động có tính cách phòng ngừa,chúng ta cũng nghiên cứu những tác động hậu mãi như là bảo trì, hỗ trợ hậu cần hợp nhất (integrated logistics support). EMEA-Quy trình Mặc dù cũng chú trọng đến độ khả tín của sản phẩm, FMEA- Quy trình process FMEA, P-FMEA hay là FMEA-P) chủ yếu chú trọng đến việc cải thiện năng suất, đặc biệt đến những phương tiện sản xuất (máy móc, công cụ, dây chuyển sản xuất,.) và các chuỗi cách thức, truy cập thông tin, tiếp đón khách hàng.
làm bằng tay hay tự động. Vì thế người ta cũng hay gọi phương pháp nảy là FMEA- Thiết bị (Machine FMEA) hay là FMEA -t6 chức (Organization FMEA). Đặc biệt, ở những xí nghiệp đơn thuần dịch vu, người ta cũng gọi FMEA này là FMEA-Dich vụ (Service FMEA). Khi tiễn hành một công trình FMEA-Quy trình cho một dịch vụ thì người ta phan biệt những hoạt động hậu trường(back office), được thực hiện ngoài sự có mặt của khách hang và những hoạt động tiền trường(fữont office) được thực hiện với sự chứng kiến hay sự tham gia của khách hàng.
e© Khi tiễn hành một công trình FMEA-Quy trình giúp chúng ta: - Nhận định những chức năng và đòi hỏi của quy trình sản xuất. - Nhận định những cách thức sinh ra sai sót tiềm tàng cho sản phẩm và quy trình sản xuất. - Nhận định những nguyên nhân sai sót tiềm tàng sinh ra ở những công đoạn chế tạo và lắp ráp. - Định giá hậu quả của những sai sót tiém tang của quy trình sản xuất cũng như của sản phẩm cuối cùng.
- Nhận định những biến số cần phải chú trọng đến để giảm hay phát hiện những trường hợp sinh ra sai sót tiềm tàng. - Khai triển một bảng kê những cách thức sinh ra sai sót tiềm tàng, xếp hạng theo độ nguy kịch của chúng và như thế, lập một thứ tự ưu tiên cho những tác động phòng ngừa và cải thiện. - Cải thiện, khai triển và phê chuẩn nguyên mẫu sản phẩm. - Thu thập kinh nghiệm cho bộ phận sản xuất và cho những công trình thiết kế tiếp sau.4 Những biến thể của FMEA Năm 1997, Codex Alimentarius, một ủy ban chung của FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations, Tổ Chức của Liên Hiệp Quốc về Thực Phẩm và Canh Nông) và WHO (World Health Organization, Tổ Chức Thế Giới về Sức Khỏe), phát hành tài liệu hướng dẫn nhan dé "General Principles of Food Hygiene" (Những Nguyên tắc Chung về Vệ sinh Thực phẩm) có một phụ lục mô tả quy trình HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point, Phân Tích Trac 10 Trở Ở Trạm Kiểm Tra Nguy Kịch), một biến thé của phương pháp FMEA.
Năm 2006, IEC (International Electrotechnical Commission, Uy Ban Kỹ Thuật Điện Quốc Tế) công bố tiêu chuẩn IEC 60812, phiên bản 2, hướng dẫn cách áp dụng những phương pháp phân tích tùy theo mục đích theo đuổi, trình bày những nguyên tắc cơ bản và dẫn chứng một số thí dụ. Tập hợp những phương pháp này cũng là những biến thé của phương pháp FMEA.