Tổng quan nghiên cứu
Bệnh Alzheimer là nguyên nhân phổ biến hàng đầu gây sa sút trí tuệ trên toàn cầu, chiếm từ 60% đến 80% tổng số các trường hợp suy giảm nhận thức được chẩn đoán ở người cao tuổi. Tại Việt Nam, theo số liệu khảo sát dịch tễ của Bệnh viện Lão khoa Trung ương, có khoảng 4,6% người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ, trong đó tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng tăng gần gấp đôi sau mỗi 5 năm tuổi thọ. Bên cạnh tình trạng suy giảm trí nhớ tiến triển, các rối loạn hành vi và tâm lý xuất hiện rất phổ biến, nổi bật là triệu chứng kích động với tần suất dao động từ 20,5% đến 63% ở các giai đoạn bệnh khác nhau. Kích động bao gồm các hành vi la hét bộc phát, cử động bồn chồn lặp lại hoặc thái độ gây hấn không giải thích được, làm gia tăng nghiêm trọng mức độ căng thẳng và suy kiệt sức khỏe ở người trực tiếp chăm sóc.
Trong thực hành lâm sàng hiện nay, thuốc ức chế men cholinesterase như donepezil với liều dùng 5 mg đến 10 mg mỗi ngày là lựa chọn hàng đầu nhằm duy trì dẫn truyền thần kinh nhận thức. Tuy nhiên, việc kiểm soát triệu chứng kích động thường phải phối hợp thêm các nhóm thuốc chống loạn thần không điển hình như risperidone với liều 0,5 mg đến 2 mg mỗi ngày, vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ xuất hiện biến cố ngoại tháp, ngủ gà, tụt huyết áp tư thế và tăng tỷ lệ tử vong ở người già. Nhằm tìm kiếm một giải pháp can thiệp an toàn và bền vững, đề tài nghiên cứu chuyên khoa cấp hai được triển khai tại Đơn vị Trí nhớ và Sa sút trí tuệ thuộc Bệnh viện 30-4 trong khung thời gian từ tháng 8/2020 đến tháng 4/2022.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá mức độ cải thiện hành vi kích động trên thang điểm Cohen-Mansfield Agitation Inventory và mức độ giảm áp lực chăm sóc trên thang điểm Zarit Burden Interview thông qua liệu pháp kết hợp day ấn 5 huyệt vị y học cổ truyền với thuốc ức chế men cholinesterase, đồng thời đối chứng trực tiếp với phác đồ phối hợp thuốc chống loạn thần thông thường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa cơ chế sinh lý bệnh thần kinh học hiện đại và học thuyết tạng phủ kinh lạc của y học cổ truyền. Về mặt y học hiện đại, bệnh sinh Alzheimer liên quan trực tiếp đến sự lắng đọng mảng protein ngoại bào beta-amyloid và đám rối sợi thần kinh nội bào tau-protein, dẫn đến tổn thương thoái hóa khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh và phá vỡ cấu trúc dẫn truyền tại hơn 100 nghìn tỷ khớp thần kinh cholinergic. Triệu chứng kích động phát sinh khi có sự rối loạn điều hòa trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận, kéo theo sự gia tăng nồng độ hormone cortisol trong huyết thanh và nước bọt, kích hoạt trạng thái căng thẳng thần kinh thực vật quá mức.
Về mặt y học cổ truyền, sa sút trí tuệ thuộc phạm trù các chứng thiện vong, si ngai, trong khi triệu chứng kích động được xếp vào phạm trù điên cuồng do tình chí uất kết, can hỏa thượng nghịch hoặc đàm trọc che lấp thanh khiếu. Quá trình day ấn lên các huyệt vị then chốt bao gồm Ấn đường, Bách hội, Phong trì, Nội quan và Thần môn tạo ra các kích thích cơ học giúp sơ thông kinh khí, trấn tĩnh tâm thần, tiềm dương tức phong và thanh nhiệt khai khiếu. Hệ thống khái niệm chính trong mô hình nghiên cứu bao gồm:
- Thang điểm Mini-Mental State Examination với dải điểm từ 0 đến 30 điểm dùng để đánh giá mức độ suy giảm nhận thức chung.
- Thang điểm Cohen-Mansfield Agitation Inventory gồm 29 tiêu chí hành vi theo thang đo Likert 7 bậc với tổng điểm từ 29 đến 203 điểm nhằm lượng hóa mức độ kích động.
- Thang điểm Zarit Burden Interview gồm 22 câu hỏi theo thang Likert 5 bậc với tổng điểm từ 0 đến 88 điểm dùng để đo lường gánh nặng thể chất, tâm lý và xã hội của người chăm sóc.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng đối song song trong thời gian can thiệp 4 tuần liên tục. Dân số nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán xác định mắc bệnh Alzheimer theo tiêu chuẩn DSM-5, có điểm nhận thức MMSE từ 10 đến 25 điểm, xuất hiện hành vi kích động tối thiểu 2 lần mỗi tuần và có người nhà chăm sóc trực tiếp ít nhất 6 tháng.
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán dựa trên công thức so sánh hai giá trị trung bình với mục tiêu làm giảm 20% điểm kích động so với giá trị ban đầu, độ lệch chuẩn dự kiến là 17,5 điểm cho cả hai nhóm. Để bù trừ cho tỷ lệ mất dấu theo dõi ước tính khoảng 20%, tổng cộng 76 cặp bệnh nhân và người chăm sóc đã được tuyển chọn và phân bổ ngẫu nhiên thành 2 nhóm đồng đều:
- Nhóm can thiệp: Gồm 38 cặp bệnh nhân được điều trị bằng donepezil phối hợp day ấn 5 huyệt vị với thời lượng 15 phút mỗi ngày trong 4 tuần.
- Nhóm đối chứng: Gồm 38 cặp bệnh nhân được điều trị thông thường bằng donepezil kết hợp thuốc chống loạn thần risperidone.
Quy trình phân bổ đối tượng sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên theo khối hoán vị với kích thước block linh hoạt từ 4, 6 đến 8 nhằm triệt tiêu tối đa sai số lựa chọn. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên ngành y sinh học, sử dụng các kiểm định tham số và phi tham số tương ứng nhằm so sánh sự biến thiên điểm số trước và sau can thiệp giữa hai nhóm nghiên cứu với ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập tại p < 0,05.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu lâm sàng sau 4 tuần theo dõi ghi nhận nhiều phát hiện có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt về hiệu quả can thiệp đa mô thức:
Thứ nhất, mức độ giảm triệu chứng kích động trên thang điểm CMAI ở nhóm can thiệp đạt hiệu quả tương đương và ổn định so với nhóm điều trị thông thường. Điểm trung bình CMAI khởi trị của bệnh nhân ở mức cao khoảng 75,4 điểm đã giảm mạnh về mức dưới 48,2 điểm sau 4 tuần, tương ứng tỷ lệ giảm điểm kích động đạt trên 36,0%. Ở nhóm dùng thuốc chống loạn thần thông thường, điểm CMAI cũng ghi nhận mức giảm khoảng 34,5%, cho thấy thao tác day ấn huyệt mang lại giá trị kiểm soát hành vi tương đương việc dùng thêm dược phẩm hướng thần.
Thứ hai, mức độ cải thiện gánh nặng chăm sóc theo thang điểm ZBI ở nhóm can thiệp thể hiện ưu thế vượt trội. Điểm ZBI khởi đầu của người chăm sóc trung bình ở mức 46,8 điểm thuộc phân loại gánh nặng từ trung bình đến nặng đã hạ xuống còn 28,3 điểm sau thời gian nghiên cứu, đạt tỷ lệ giảm gánh nặng lên tới 39,5%. Trong khi đó, nhóm đối chứng thông thường chỉ ghi nhận mức giảm khoảng 22,1% do người chăm sóc vẫn phải chịu nhiều áp lực trong việc theo dõi các tác dụng phụ của thuốc an thần kinh ở bệnh nhân.
Thứ ba, tỷ lệ xuất hiện các biến cố bất lợi điều trị ở nhóm kết hợp day ấn huyệt thấp hơn rõ rệt. Trong khi nhóm sử dụng thuốc chống loạn thần ghi nhận tỷ lệ buồn ngủ ban ngày lên tới 26,3%, run tay ngoại tháp chiếm 15,8% và mệt mỏi thể chất là 21,1%, thì nhóm can thiệp day ấn huyệt chỉ ghi nhận tỷ lệ mệt mỏi nhẹ thoáng qua dưới 5,3%, cảm giác đau tức tại chỗ châm kim/day ấn chiếm 7,9% và không có trường hợp nào xuất hiện hội chứng ngoại tháp hay té ngã nguy hiểm.
Thảo luận kết quả
Hiệu quả kiểm soát hành vi kích động của phương pháp day ấn huyệt bắt nguồn từ cơ chế điều hòa phản xạ thần kinh và ổn định nồng độ chất dẫn truyền trung ương. Việc day ấn phối hợp huyệt Ấn đường và Bách hội tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương thông qua nhánh thần kinh sinh ba và mạng lưới mạch máu da đầu, hỗ trợ thư giãn vỏ não và ức chế các xung động quá mức từ hệ viền. Đồng thời, sự phối hợp hai huyệt Nội quan và Thần môn giúp điều hòa nhịp tim, hạ thấp hoạt tính giao cảm và ức chế bài tiết quá mức cortisol từ tuyến thượng thận, đưa người bệnh vào trạng thái an tĩnh tự nhiên.
Khi so sánh với các y văn quốc tế, kết quả này hoàn toàn nhất quán với thử nghiệm lâm sàng của tác giả Yang công bố năm 2007 trên 31 bệnh nhân sa sút trí tuệ, ghi nhận điểm CMAI giảm từ 79,74 điểm xuống 59,63 điểm với giá trị p < 0,01 sau liệu trình bấm huyệt 4 tuần. Tương tự, nghiên cứu của Kwan cùng các cộng sự năm 2016 trên 24 người bệnh cũng chỉ ra rằng việc tác động lên nhóm huyệt Phong trì, Bách hội, Thần môn, Nội quan và Ấn đường giúp cải thiện triệu chứng kích động ngay từ tuần thứ nhất và duy trì hiệu quả kéo dài đến tuần thứ 6 sau can thiệp.
Trong các báo cáo khoa học, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường biểu diễn sự sụt giảm liên tục của điểm số CMAI và ZBI qua các mốc thời gian tuần 0, tuần 1, tuần 2 và tuần 4. Đồng thời, việc sử dụng bảng so sánh tỷ lệ phần trăm các biến cố bất lợi giữa 2 nhóm giúp làm nổi bật tính an toàn vượt trội của liệu pháp không dùng thuốc trong môi trường lão khoa ngoại trú.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các bằng chứng lâm sàng thu được từ đề tài, các khuyến nghị can thiệp cụ thể được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh Alzheimer:
- Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật day ấn 5 huyệt vị tại các khoa Lão và phòng khám Y học cổ truyền, thiết lập liệu trình 15 phút mỗi ngày trong tối thiểu 4 tuần liên tục, hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 30% đến 35% điểm kích động trên thang CMAI cho bệnh nhân sa sút trí tuệ mức độ nhẹ và trung bình.
- Xây dựng chương trình tập huấn chuyển giao kỹ năng cho người chăm sóc và điều dưỡng viên trong thời gian 2 tuần, hướng dẫn xác định chính xác vị trí giải phẫu của các huyệt Ấn đường, Bách hội, Phong trì, Thần môn, Nội quan cùng kỹ thuật tác động lực tăng dần để đạt cảm giác đắc khí an toàn.
- Kiến nghị Hội đồng Chuyên môn và Cục Quản lý Y Dược Cổ truyền bổ sung phác đồ kết hợp day ấn huyệt với thuốc ức chế men cholinesterase vào Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sa sút trí tuệ quốc gia trong giai đoạn 2024-2026, nhằm giảm thiểu từ 20% đến 40% tỷ lệ chỉ định thuốc chống loạn thần không cần thiết ở người già.
- Triển khai định kỳ công cụ đánh giá ZBI và CMAI mỗi 2 đến 4 tuần tại các cơ sở chăm sóc ban ngày và viện dưỡng lão, giúp các bác sĩ chuyên khoa chủ động điều chỉnh kế hoạch điều trị và phát hiện sớm tình trạng kiệt sức ở người chăm sóc gia đình.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và dữ liệu thực chứng của công trình nghiên cứu này mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
- Bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền và Thần kinh: Tiếp cận mô hình phối hợp Đông - Tây y chuẩn mực, nắm vững chỉ định, liều lượng donepezil phối hợp cùng công thức 5 huyệt vị đặc hiệu giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị kích động mà không làm tăng nguy cơ tương tác thuốc.
- Cán bộ điều dưỡng và nhân viên chăm sóc tại viện dưỡng lão: Áp dụng quy trình chăm sóc không dùng thuốc an toàn, giúp xoa dịu các cơn bùng phát cảm xúc của người bệnh Alzheimer trong sinh hoạt hàng ngày mà không cần áp dụng các biện pháp cô lập thể chất.
- Thân nhân và người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân Alzheimer tại nhà: Nắm bắt kiến thức thực hành day ấn huyệt đơn giản, từ đó chủ động giảm thiểu điểm gánh nặng chăm sóc Zarit từ mức trên 40 điểm xuống dưới 25 điểm, cải thiện đáng kể sức khỏe tâm lý của bản thân.
- Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh ngành Lão khoa: Tham khảo phương pháp luận thiết kế nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng với cỡ mẫu 76 cặp đối tượng, các tiêu chuẩn chọn mẫu nghiêm ngặt theo DSM-5 và hệ thống thang đo đánh giá chuẩn hóa quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
-
Phương pháp day ấn huyệt có thể thay thế hoàn toàn thuốc ức chế men cholinesterase trong điều trị Alzheimer không?
Không. Thuốc ức chế men cholinesterase như donepezil giữ vai trò cốt lõi trong việc duy trì nồng độ acetylcholin tại synap thần kinh để bảo tồn chức năng nhận thức và trí nhớ. Day ấn huyệt đóng vai trò trị liệu bổ trợ đắc lực nhằm kiểm soát các rối loạn hành vi và triệu chứng kích động, giúp tối ưu hóa hiệu quả của thuốc chính và hạn chế tối đa việc phải dùng thêm thuốc an thần kinh.
-
Thời gian thực hiện một liệu trình day ấn huyệt cho bệnh nhân Alzheimer kéo dài bao lâu?
Mỗi buổi trị liệu kéo dài 15 phút, bao gồm 5 phút day ấn huyệt Ấn đường, 5 phút day đồng thời Bách hội và Phong trì, và 5 phút day đồng thời Nội quan và Thần môn. Liệu trình chuẩn được tiến hành liên tục mỗi ngày một lần trong thời gian 4 tuần để đạt được mức giảm điểm kích động trên 30% và duy trì sự ổn định tâm lý lâu dài.
-
Thang điểm CMAI và ZBI được tính toán như thế nào để lượng hóa hiệu quả điều trị?
Thang điểm CMAI gồm 29 hành vi với mức điểm từ 29 đến 203 điểm, phản ánh tần suất kích động trong 2 tuần gần nhất. Thang điểm ZBI gồm 22 câu hỏi với mức điểm từ 0 đến 88 điểm nhằm đánh giá mức độ căng thẳng của người chăm sóc. Hiệu quả can thiệp được tính bằng mức chênh lệch tuyệt đối và tỷ lệ phần trăm giảm điểm giữa thời điểm sau 4 tuần so với thời điểm khởi trị ban đầu.
-
Biến cố bất lợi nào có thể xuất hiện khi thực hiện kỹ thuật day ấn huyệt trên người cao tuổi?
Day ấn huyệt là phương pháp không xâm lấn có độ an toàn rất cao. Tác dụng phụ ghi nhận được trong nghiên cứu chỉ là cảm giác đau tức nhẹ tại vị trí tác động với tỷ lệ 7,9% hoặc mệt mỏi nhẹ thoáng qua dưới 5,3%. Các biểu hiện này đều tự hết nhanh chóng mà không cần can thiệp y tế hay làm gián đoạn liệu trình điều trị.
-
Người nhà không có chuyên môn y tế có thể tự thực hành day ấn 5 huyệt vị này tại nhà được không?
Hoàn toàn có thể. Sau khi được các bác sĩ hoặc kỹ thuật viên y học cổ truyền hướng dẫn trực tiếp từ 1 đến 2 buổi về cách xác định vị trí giải phẫu và lực day ấn phù hợp để đạt cảm giác đắc khí nhẹ, người nhà hoàn toàn có thể tự thao tác an toàn tại nhà cho bệnh nhân mỗi ngày.
Kết luận
- Đề tài đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội của phác đồ phối hợp day ấn 5 huyệt vị gồm Ấn đường, Bách hội, Phong trì, Thần môn, Nội quan với thuốc donepezil trong việc kiểm soát triệu chứng kích động ở bệnh nhân Alzheimer.
- Liệu pháp can thiệp giúp giảm hơn 36,0% điểm kích động trên thang đo CMAI và hạ thấp 39,5% điểm gánh nặng chăm sóc trên thang đo ZBI sau 4 tuần trị liệu liên tục.
- Phương pháp thể hiện tính an toàn cao với tỷ lệ biến cố ngoại tháp và ngủ gà bằng 0%, khắc phục hoàn toàn các nhược điểm nghiêm trọng của nhóm thuốc chống loạn thần risperidone trên 76 đối tượng nghiên cứu.
- Công trình mở ra hướng đi mới đầy triển vọng trong việc tích hợp y học cổ truyền vào mô hình quản lý bệnh mạn tính thoái hóa thần kinh tại các cơ sở y tế lão khoa trên cả nước.
- Các đơn vị y tế và viện dưỡng lão nên chủ động đưa quy trình day ấn huyệt 15 phút mỗi ngày vào phác đồ chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân sa sút trí tuệ ngay từ giai đoạn can thiệp ban đầu.