ĐẶT VẤN ĐỀ Alzheimer bệnh lý phổ biến nhất, chiếm 60-80% các trƣờng hợp đƣợc chẩn đoán sa sút trí tuệ[10], gây ra hậu quả tàn tật và tử vong hàng đầu ở ngƣời cao tuổi. Theo nghiên cứu của Bệnh viện Lão khoa Trung ƣơng, tại Việt Nam 4,6% ngƣời cao tuổi mắc sa sút trí tuệ. Tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh theo tuổi. Cứ sau mỗi 5 năm tỷ lệ này lại tăng gần gấp đôi[5].
Biểu hiện chủ yếu của bệnh Alzheimer là nhóm rối loạn các chức năng nhận thức giảm trí nhớ, sau đến các triệu chứng về hành vi tâm lý, các triệu chứng đó đủ nặng để ảnh hƣởng tới các hoạt động sống hàng ngày[7],[90]. Kích động đƣợc coi nhƣ là một trong những triệu chứng phổ biến của bệnh Alzheimer thuộc nhóm rối loạn hành vi tâm lý [25] [31], chiếm tỷ lệ từ 20,5% đến 63% [29],[77]. Kích động là các hoạt động nhƣ lời nói, giọng nói và hành động quá mức, bộc phát và hành vi không giải thích đƣợc và ngƣời bệnh không ở trạng thái loạn thần [18],[61]. Sự kích động ở ngƣời bệnh cũng làm tăng gánh nặng và gây căng thẳng của ngƣời chăm sóc.
Hiện tại thuốc ức chế men Cholinesterase là thuốc chính điều trị các triệu chứng về nhận thức và trí nhớ ở ngƣời bệnh Alzheimer, thuốc ức chế sự phân hủy của acetylcholin làm tăng nồng độ acetylcholin ở các synap cholinergic dẫn tới tăng hoạt tính dẫn truyền thần kinh hậu synap[34]. Trong các thuốc ức chế men Cholinesterase, Donepezil là thuốc đƣợc sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam và đƣợc FDA công nhận năm 1996 trong điều trị bệnh Alzheimer từ mức độ nhẹ tới trung bình, thuốc có hiệu quả tr n các lĩnh vực của nhận thức nhƣ cải thiện trí nhớ, tăng sự tập trung. Ở ngƣời bệnh Alzheimer có triệu chứng kích động với các thuốc chống loạn thần đƣợc sử dụng nhiều nhất [72]. Trong các thuốc loạn thần để điều trị kích động ở ngƣời bệnh Alzheimer, Risperidon đƣợc đánh giá hiệu quả, phổ biến, dung nạp tốt, ít biến cố bất lợi [107],[5].
Theo Y học cổ truyền (YHCT) kích động trong bệnh Alzheimer gọi là chứng. 2 “đi n”, “cuồng”, li n quan tới chứng “si ngai”, “kiện vong”. Các yếu tố gây bệnh bao gồm: tiên thiên bất túc, âm dƣơng thất điều, tình chí uất kết, đờm trọc đƣa l n trên che lấp thanh khiếu làm cho thần chí nghịch loạn gây nên “đi n”, “cuồng”, ngoài ra tình trạng cao niên, chấn thƣơng, thể chất hƣ suy và lối sống ít vận động cũng gây t nh trạng khí trệ huyết ứ làm não hải thất dƣỡng gây chứng “si ngai”, kiện vong[132]. Day ấn huyệt là một phƣơng pháp điều trị bệnh độc đáo không dùng thuốc của YHCT, thông qua việc tác động các huyệt tr n cơ thể để điều trị bệnh và tăng cƣờng chất lƣợng cuộc sống [76].
Theo YHCT day ấn huyệt làm tăng cƣờng khí huyết lƣu thông ở kinh lạc, điều hòa chức năng tạng phủ để phát huy tác dụng phòng và trị bệnh[43]. Các y văn trƣớc đây chỉ ra rằng day ấn huyệt có thể làm giảm kích động ở bệnh Alzheimer [79]. Một nghiên cứu lâm sàng sơ bộ ngẫu nhiên có nhóm chứng của tác giả Yang và cộng sự năm 2007 day ấn huyệt Phong trì, Bách hội, Thần môn, Nội quan, Tam âm giao cho thấy cải thiện đƣợc triệu chứng kích động trên thang điểm CMAI [127]. Nghiên cứu Kwan RY và cộng sự 2016 cho thấy day ấn nhóm huyệt Phong trì, Ấn đƣờng, Thần môn, Nội quan, Bách hội ở ngƣời bệnh Alzheimer kèm theo kích động cho thấy cải thiện triệu chứng kích động và giảm triệu chứng căng thẳng thông qua giảm lƣợng Cortisol tuyến nƣớc bọt [36].
Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ là nghiên cứu lâm sàng sơ bộ, hiện tại vẫn chƣa có nghi n cứu việc kết hợp day ấn huyệt nhóm huyệt Phong trì, Ấn đƣờng, Thần môn, Nội quan, Bách hội với thuốc ức chế men Cholinesterase tr n ngƣời bệnh Alzheimer có triệu chứng kích động, do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu góp phần nâng cao chất lƣợng điều trị bệnh nhân, giảm gánh nặng cho ngƣời chăm sóc bằng kết hợp YHHĐ và YHCT. CÂU HỎI NGHIÊN C U Ở ngƣời bệnh Alzheimer có triệu chứng kích động, kết hợp day ấn huyệt với thuốc ức chế men Cholinesterase có giảm đƣợc triệu chứng kích động hay không? Có khác biệt so với phƣơng pháp điều trị thông thƣờng (thuốc ức chế men. 3 Cholinesterase kết hợp thuốc chống loạn thần) hay không?. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát: Xác định mức độ cải thiện triệu chứng kích động ở ngƣời bệnh Alzheimer khi dùng phƣơng pháp can thiệp kết hợp day ấn nhóm huyệt Ấn đƣờng, Bách hội, Nội quan, Thần môn, Phong trì với thuốc ức chế men Cholinesterase và phƣơng pháp điều trị thông thƣờng dùng thuốc ức chế men Cholinesterase kết hợp thuốc chống loạn thần.
Mục tiêu cụ thể Mục tiêu 1: Xác định mức độ thay đổi điểm kích động theo thang điểm CMAI ở ngƣời bệnh Alzheimer bằng phƣơng pháp kết hợp day ấn huyệt (thuốc ức chế men Cholinesterase + nhóm huyệt Ấn đƣờng, Bách hội, Nội quan, Thần môn, Phong trì) và phƣơng pháp điều trị thông thƣờng (thuốc kháng men Cholinesterase + thuốc chống loạn thần). Mục tiêu 2: Xác định mức độ thay đổi điểm gánh nặng chăm sóc ngƣời bệnh Alzheimer tr n thang điểm ZBI bằng phƣơng pháp kết hợp day ấn huyệt (thuốc kháng men Cholinesterase + nhóm huyệt Ấn đƣờng, Bách hội, Nội quan, Thần môn, Phong trì) và phƣơng pháp điều trị thông thƣờng (thuốc kháng men Cholinesterase + thuốc chống loạn thần). Mục tiêu 3: Xác định tỉ lệ xuất hiện các biến cố bất lợi của uống thuốc và day ấn huyệt (mệt lả, nôn ói, tiêu chảy, chậm nhịp tim, run, buồn ngủ, đau) trong mẫu nghiên cứu. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Bệnh Alzheimer theo Y học hiện đại Alzheimer là một hội chứng mắc phải do hậu quả của sự chết dần các tế bào thần kinh tham gia chức năng nhận thức và hành vi trong não bộ. Bệnh biểu hiện với mất trí nhớ, giảm chức năng nhận thức, thay đổi về hành vi và mất các chức năng xã hội. Các triệu chứng này gây suy giảm và trở ngại đáng kể cho các hoạt động nghề nghiệp, xã hội và cả các hoạt động sống hàng ngày. Nguyên nhân phổ biến nhất của sa sút trí tuệ là bệnh Alzheimer.
Bệnh đƣợc đặt t n đầu tiên bởi Emil Kraepelin vào năm 1910, sau Alois Alzheimer ngƣời đã mô tả các đặc điểm lâm sàng và các biểu hiện bệnh học của sa sút trí tuệ ở một phụ nữ 51 tuổi vào năm 1906. Trong một vào thập kỉ, bệnh Alzheimer đƣợc xem nhƣ là một dạng sa sút trí tuệ thời k trƣớc tuổi già ảnh hƣởng đến cá nhân với những triệu chứng bắt đầu trƣớc 65 tuổi. Nhƣng đến thế kỉ 20 đã có những hiểu biết rõ hơn về đặc trƣng lâm sàng, bệnh học, cấu trúc phân tử và sinh hóa của bệnh Alzheimer tiền lão giống với sa sút trí tuệ ở thời kì lão suy (lớn hơn 65 tuổi)[111]. Trong những năm gần đây, các hiểu biết về di truyền thần kinh và sinh lý bệnh học của bệnh Alzheimer đã đƣợc phát hiện.
Cơ chế chuyển hóa của các Tau-Protein và β- Amyloid, cơ chế vi m, cơ chế oxy-hóa và những thay đổi về nội tiết có thể gây ra những thoái hóa tế bào thần kinh trong bệnh Alzheimer càng ngày đƣợc làm sáng tỏ và nghiên cứu rộng rãi[3]. Dịch tễ học bệnh Alzheimer Bệnh Alzheimer là bệnh mạn tính của tuổi tác và tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mới mắc đều tăng theo tuổi. Tỷ lệ hiện mắc cho thấy ít hơn 1% ngƣời nhỏ hơn 65 tuổi bị ảnh hƣởng, nhƣng đến 5% bị ảnh hƣởng ở 65 đến 75 tuổi, khoảng 20% ở 75 đến 85 tuổi và hầu nhƣ tr n 50% ở ngƣời bệnh trên 85 tuổi[111]. Thống kê mới nhất tại Mỹ năm 2019 có khoảng 5,8 triệu ngƣời bị Alzheimer, trong đó chiếm 5,6 triệu ngƣời ở tuổi trên 65.
Bệnh là nguyên nhân gây tử vong. 6 đứng hàng thứ 6 tại Mỹ, là gánh nặng kinh tế cho việc chăm sóc ngƣời bệnh, ƣớc tính khoảng 290 tỉ mỗi năm. Dự đoán đến năm 2030 số lƣợng ngƣời bệnh Alzheimer khoảng 600.000, trong đó 50% ngƣời bệnh trên 85 tuổi[105]. Cơ chế bệnh sinh bệnh Alzheimer Hình 1.1 Tế bào thần kinh của ngƣời b nh thƣờng và Alzheimer Một tế bào não trƣởng thành khỏe mạnh chứa khoảng 100 tỷ tế bảo thần kinh, mỗi tế bào thần kinh có các phần mở rộng phân nhánh, những phần mở rộng này cho phép các tế bào thần kinh riêng lẻ hình thành các kết nối với tế bào thần kinh khác.
Tại các kết nối nhƣ vậy gọi là khớp thần kinh, bộ não chứa khoảng 100 nghìn tỷ khớp thần kinh chúng cho phép các tín hiệu truyền nhanh qua các mạch thần kinh của não, tạo cơ sở tế bào ký ức, suy nghĩ, cảm giác, cảm xúc, chuyển động và kỹ năng [116]. Sự tích tụ của Protein β-Amyloid (gọi màng beta-amyloid) bên ngoài tế bào thần kinh và sự tích tụ của một dạng bất thƣờng của Tau-protein (gọi là đám rối Tau) bên trong tế bào thần kinh là hai trong số những thay đổi não bộ đƣợc cho là góp phần gây ra sự phá hủy và phá hủy tế bào thần kinh dẫn đến mất trí nhớ và các triệu chứng khác của bệnh Alzheimer. Khi não thay đổi việc truyền thông tin tại các. 7 khớp thần kinh bắt đầu thất bại, số lƣợng các tế bào thần kinh bắt đầu giảm xuống và các tế bào thần kinh cuối cùng sẽ chết.
Sự tích lũy beta-amyloid đƣợc cho là can thiệp vào quá trình giao tiếp giữa các tế bào thần kinh tại các khớp thần kinh và góp phần gây chết tế bào. Đám rối Tau ngăn chặn sự vận chuyển các chất dinh dƣỡng và các phân tử thiết yếu khác bên trong tế bào thần kinh và cũng đƣợc cho gây chết tế bào não của nhữ ng ngƣời mắc bệnh Alzheimer tiến triển cho thấy tình trạng viêm, co rút đáng kể do mất tế bào và các mảnh vụn lan rộng từ các tế bào thần kinh đã chết và sắp chết. Đặc điểm lâm sàng bệnh alzheimer 1. Triệu chứng của bệnh alzheimer [7]: Các thay đổi nhận thức: suy giảm trí nhớ, khó hiểu trong giao tiếp bằng lời nói và chữ viết, khó khăn trong việc tìm từ để dùng, rối loạn định hƣớng, không biết các sự kiện phổ biến.
Các triệu chứng tâm lý: Chứng tự kỷ hoặc lãnh đạm, trầm cảm, nghi ngờ, lo âu, mất ngủ, chứng sợ, hoang tƣởng, ảo giác. Có triệu chứng về hành vi: Đi lang thang, kích động, làm ồn, đứng ngồi không yên.