Chương I: Lý luận về người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Chương II: Thực trạng quy định pháp luật về quốc tịch và nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài Chương III: Hướng hoàn thiện một số quy định của pháp luật về quốc tịch và nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Ngoài ra, kèm theo có Danh mục tài liệu tham khảo. LY LUAN VE NGUOI VIET NAM DINH CU O NUOC NGOAI 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” Đây là khái niệm được đề cập trong Hiến pháp năm 1992. Điều 75 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) nêu: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của dân tộc Việt Nam. Nhà nước bảo hộ quyên lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Khái niệm này lần đầu tiên được giải thích một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam 1998, theo đó “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dai ở nước ngoài”. Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 và Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đều lấy yêu tố “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” dé giải nghĩa cho khái niệm “định cư”. Tuy nhiên, từ trước tới nay cũng chưa có văn bản nào giải thích “lâu dài” là bao lâu mà chỉ thường căn cứ vào “giấy phép cư trú” của nước sở tal. Nhu vậy, khái niệm "ngioi Việt Nam định cu ở nước ngoài" được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp lý, dùng để chỉ công dân Việt Nam va người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh song lâu dai ở nước ngoài.
Bên cạnh đó còn có các khái niệm "việt kiều", khái niệm "kiều bảo" dùng để chỉ NVNĐCONN. Tuy nhiên các khái niệm này thường được dùng trong đời sống, trong các diễn văn, phát biểu hoặc trong văn bản, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật thời kỳ trước. Đến nay, các khái niệm này không còn được sử dung trong các văn bản pháp luật. ? Điều 2 Luật Quóc tịch Việt Nam năm 1998 1.
Khái niệm “người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài” Khái niệm người sốc Việt Nam xuất hiện từ Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, tuy nhiên lại không được giải thích rõ thé nào là người gốc Việt Nam. Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn Luật Quốc tịch 1998, người gốc Việt Nam được hiểu là người đã từng có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh song lâu dài ở nước ngoài. Một số văn bản trong các lĩnh vực liên quan đã áp dụng và giải thích khái niệm "người gốc Việt Nam", tuy nhiên chưa chính xác và nhất quán. Thông tư số 2461/2001/TT-BNG ngày 5/10/2001 của Bộ Ngoại giao hướng dẫn thực hiện Điều 1, Quyết định 114/2001/QD-TTg ngày 31/7/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 210/1999/QD-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với NVNONN quy định “người gốc Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài quy định tại Thông tư này được hiểu là người hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam; người có cha đẻ, me đẻ, hoặc ông nội, ba nội, ông ngoại, bà ngoại hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam”.
Đến Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, khái niệm này được mở rộng như sau: “#øgười gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thong và con, chdu của họ dang cư trú, sinh sống lâu đài tại Việt Nam” (Khoản 4 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008). Như vậy, khái niệm "øgười gốc Việt Nam" được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật, bao hàm các đối tượng sau: + Người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống đang cư trú, làm ăn, sinh sông lâu dài ở nước ngoài. 3 Trích Khoản 2, Phần 1, Thông tư 2461/2001/TT-BNG ngày 5/10/2001 của Bộ Ngoại giao + Con, cháu của những người nêu trên đang cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Khái niệm “công dân Việt Nam định cw ở nước ngoài” Hiến pháp quy định “công dan Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013).
Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 giải thích “„gười Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008). Như vậy, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Luật Quốc tịch năm 2008 tiếp tục khang dinh nguyén tắc một quốc tịch. Tuy nhiên, Luật cũng quy định về trường hợp công dân Việt Nam dong thời có quốc tịch nước ngoài, Khoản 4 Điều 5 Luật Quốc tịch 2008 quy định “Quyển và nghĩa vụ của công dân Việt Nam dong thời có quốc tịch nước ngoài đang định cu ở nước ngoài được thực hiện theo quy định cua pháp luật có liên quan”.
Đây là lần đầu tiên pháp luật Việt Nam quy định về việc công dân Việt Nam ở nước ngoài có thể đồng thời có quốc tịch nước ngoài (có hai hay nhiều quốc tịch). Khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” Khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” xuất hiện từ sau các cuộc thảo luận để ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Lần đầu tiên được giải thích một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam 1998. Điều 2 Khoản 3 của Luật Quốc tịch 1998 định nghĩa: “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam dang thường tru hoặc tam trú ở nước ngoài".
Có thể nói “người Việt Nam ở nước ngoai” là khái niệm rộng nhất, bao hàm tất cả các đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài, không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch hay cư trú. Khái niệm này được sử dụng trong các văn bản của Đảng và Nhà nước khi đề cập đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung, ít được sử dụng trong các văn bản pháp lý. Khái niệm "pháp luật về quốc tịch đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Quốc tịch là mối quan hệ chính trị và pháp lý gắn kết một cá nhân với một nhà nước nước, là cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ qua lại giữa nhà nước và công dân.
Những quyền và nghĩa vụ này được quy định trong pháp luật quốc gia như hiến pháp, luật quốc tịch và các văn bản pháp luật khác. Pháp luật quốc tịch là công cụ pháp lý, thông qua đó nhà nước thê hiện chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế và quyền lực nhà nước đối với cư dân của mình, xác định quyền và nghĩa vụ của công dân, đồng thời là cơ sở để nhà nước thực hiện quyền bảo hộ công dân của mình ở nước ngoài. Như vậy, pháp luật về quốc tịch đổi với NVNĐCONN là hệ thong các quy tắc xử sự, có tính chất bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, là cơ sở xác định các quyên và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước Việt Nam với công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Khái niệm "pháp luật về nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài” Pháp luật về nhà ở đối với NVNĐCONN là hệ thống các quy tắc xử sự, có tính chất bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, quy định các quyên và nghĩa vụ về nhà ở của công dân Việt Nam và người góc Việt Nam cư tru, làm ăn, sinh sông lau dai ở nước ngoài.
10 Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền của người sở hữu nhà ở là khả năng mà pháp luật cho phép người sở hữu nhà ở được thực hiện những hành vi nhất định trong quá trình sử dụng. Còn nghĩa vụ của người sở hữu nhà ở là cách xử sự mà pháp luật bắt buộc người sở hữu phải tiễn hành trong quá trình sử dụng nhằm không làm tốn hại đến quyên và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của các chủ thể sử dụng đất khác. Tại luận văn nay, chúng tôi sử dụng khái niệm "ngioi Việt Nam định cư ở nước ngoài", "công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài", "người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài" dé nghiên cứu, phân tích các chính sách và quy định pháp luật về quốc tịch và nhà ở đối với NVNĐCONN.2 Tổng quan về tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Số lượng, phan bo.
Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài có trên 4,5 triệu người và phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thé giới. Đại bộ phận người Việt (98%) tập trung ở 21 nước thuộc năm khu vực địa lý: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Châu Úc. Khoảng 80% người Việt đang làm ăn, sinh sống ở các nước công nghiệp phát triển, cụ thể: ở Mỹ có khoảng 2.000 người, ở Pháp và Úc mỗi nước khoảng 300.000 người, Canada 250.000 người, Đức 125. Ngoài ra, một số nước có đông người Việt Nam ở nước ngoài định cư là Đài Loan hơn 220.000 người, Campuchia 156.000 người, Hàn Quốc 123.000 người, Thái Lan, Malaysia mỗi nước trên 100.000 người; Nga, Séc, Anh mỗi nước trên 60.000 người; Nhật Bản 53.500 người, Angola 40.000 người; Lào, Ba Lan, Trung Quốc mỗi nước khoảng 30.000 người; Na Uy va Hà Lan mỗi nước khoảng 20.000 người; Thuy Điển, Đan Mạch mỗi nước khoảng 15.000 người; Bi, Thuy Sỹ, Ucraina mỗi nước khoảng 10.
II Tại các khu vực khác như Nam Á và Tây Bắc Á, Trung Đông, Châu Phi, Nam Mỹ, tuy có người Việt làm ăn sinh sống, song số lượng không nhiều *. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế và giao lưu văn hoá, trong hơn mười năm gan đây, cơ câu cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng có những chuyên động và phát triển mới. Bên cạnh số người Việt Nam xuất cảnh theo các hình thức định cư, đoàn tụ gia đình, thì SỐ lượng người đi học, kết hôn, làm con nuôi, làm ăn, kinh doanh, lao động xuất khẩu ở các nước tăng đáng kê, trong đó chiếm phan đông là số người đi lao động, đi du học và kết hôn với người nước ngoài.