phần mở đầu, kết luận, phần chính của luận văn đƣợc chia làm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Tổng quan lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng. Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Chƣơng III: Định hƣớng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới. 5 PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I - TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NÓI CHUNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH NÓI RIÊNG 1.
TỔNG QUAN VỀ THUẾ 1. Khái niệm Từ trƣớc đến nay, trên các sách báo kinh tế của thế giới vẫn chƣa có sự thống nhất khái niệm về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đƣa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chƣa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế đƣợc quan niệm rất đơn giản: “Để đạt đƣợc quyền lực công cộng đó, cần phải có những đóng góp của những ngƣời công dân của nhà nƣớc, đó là thuế” [1] Còn theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nƣớc Mỹ đã đƣa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” [1] Sau này khái niệm về thuế ngày càng đƣợc bổ sung và hoàn thiện hơn.
Trong cuốn từ điển của hai tác giả ngƣời Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận đƣợc của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”. [1] Một định nghĩa về thuế tƣơng đối hoàn chỉnh đƣợc nêu lên trong cuốn “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.Bryu nhƣ sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận đƣợc một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”[2] Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khía 6 cạnh sau đây: nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nƣớc đƣợc pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định. Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất, chức năng của thuế 1.
Bản chất Bản chất của thuế đƣợc thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tƣơng đối qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế, ngƣời ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác nhƣ sau: [2] Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nƣớc mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách nhà nƣớc.
Tính cƣỡng bức, bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau: Hình thức chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của ngƣời nộp thuế, do đó không thể sử dụng phƣơng pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, nhà nƣớc tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tƣợng có thu nhập phải chuyển giao. Trong xã hội hiện đại, các thành viên cộng đồng có nhu cầu càng cao về hàng hoá công cộng. Mà đại bộ phận hàng hoá công cộng do nhà nƣớc sản xuất và cung cấp đều phải bỏ chi phí, các chi phí này đƣợc bù đắp từ nguồn thu nhập của những ngƣời thụ hƣởng hàng hoá công cộng.
7 Thứ hai: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lƣợng và khoản thu mà nhà nƣớc thu từ công dân đó, nhƣ là khoản vay mƣợn. Nó sẽ đƣợc hoàn trả lại cho ngƣời nộp thuế thông qua cơ chế đầu tƣ của NSNN. Thứ ba: Các khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế chỉ đƣợc giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nƣớc đối với con ngƣời và tài sản.
Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế. Từ những thuộc tính đó, giúp chúng ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Chức năng của thuế Chức năng của một sự vật hay đối tƣợng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn có của nó. Đối với một phạm trù kinh tế, chức năng phản ánh bản chất sự tác động vốn có của nó, là phƣơng thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù.
Cũng nhƣ bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tƣơng đối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tƣợng. Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trƣng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Mặc dù chƣa có sự thống nhất trong việc đƣa ra số lƣợng các chức năng của thuế, nhƣng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nƣớc và chức năng điều chỉnh.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trƣờng đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích năng suất, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất .Tuy nhiên, bên cạnh đó, cơ chế thị trƣờng cũng mang trong mình nhiều khuyết tật khó tránh khỏi nhƣ: Tính tự phát vốn có của thị trƣờng thƣờng xuyên gây cho xã hội lãng phí không nhỏ về tài nguyên, lao động, tiền vốn dẫn đến độc quyền, thủ tiêu cạnh tranh giảm hiệu quả chung của nền kinh tế.
Đặc 8 biệt cơ chế phân phối qua thị trƣờng thƣờng khoét sâu ngăn cách giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo, làm này sinh các hiện tƣợng tiêu cực về mặt xã hội. Tạo nên sự bất ổn về kinh tế và xã hội. Nhận thức rõ những mặt ƣu, nhƣợc điểm đó, ngày nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận tính cần thiết khách quan sự can thiệp của nhà nƣớc vào quá trình kinh tế xã hội để phát huy những mặt tích cực và hạn chế tối đa những khuyết tật của cơ chế thị trƣờng. Một trong những công cụ quan trọng mà nhà nƣớc sử dụng để can thiệp đó là thuế.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, với sự thay đổi phƣơng thức can thiệp của Nhà nƣớc vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Ngày nay ở tất cả các Quốc gia, Chính phủ đều thực hiện hành vi đánh thuế. Việc đánh thuế của Nhà nƣớc nhằm hai mục tiêu chính: - Động viên một phần nguồn tài chính của quốc gia để nuôi sống bộ máy của mình.
- Dùng thuế để thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của mình đối với đất nƣớc. Thực hiện hai mục tiêu đó cũng chính là thể hiện vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trƣờng. Thuế là công cụ chủ yếu tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước Từ xƣa đến nay, có thể nói vai trò đích thực của thuế là tạo lập nguồn thu cho ngân sách Nhà nƣớc nhằm để nuôi bộ máy cai trị và trang trải các chi phí thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc trƣớc hết dùng sức mạnh quyền lực của mình để bắt buộc mọi thể nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập của mình do hoạt động kinh tế mang lại góp vào quỹ chung gọi là ngân sách nhà nƣớc để tiêu dùng.
Để việc đóng góp đó đảm bảo công bằng, tránh sự tuỳ tiện, Nhà nƣớc quy định sự đóng góp đó theo những luật lệ nhất định gọi là các Luật thuế. Với xu hƣớng chi tiêu công cộng càng ngày mang tính quy luật, có thể nói ngày nay ở tất cả các quốc gia, thuế đã trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc. Hệ thống thuế của Việt Nam vẫn đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong GDP và quy mô thu ngân sách nhà nƣớc vẫn chiếm gần 25 GDP. Mặc dù thu nhiều, nhƣng 9 chi luôn vƣợt quá nguồn thu ngân sách với mức gần 29 GDP (năm 2016), sau khi giảm từ mức đỉnh điểm là 40 GDP (năm 2009).
Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc giải quyết bài toán cân bằng ngân sách khi các nhiệm vụ chi ngày càng tăng.