Tổng quan về luận án
Bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và cải cách khu vực dịch vụ công tại Việt Nam đặt các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trước yêu cầu cấp bách phải chuyển dịch từ mô hình bao cấp sang mô hình tự chủ tài chính (TCTC). Nghiên cứu của NCS. Hoàng Thị Thu Hiên (2023) với đề tài "Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tự chủ của các trường cao đẳng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn" (Chuyên ngành Quản lý Kinh tế, Mã số: 9310110, Trường Đại học Hải Phòng; dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Văn Hiệp và TS. Đỗ Minh Thụy) giữ vị trí tiên phong trong việc giải quyết bài toán quản lý tài chính đặc thù tại khối trường cao đẳng nông - lâm - ngư nghiệp.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực trạng các công trình trước đây (Trần Đức Cân, 2012; Vũ Thị Thanh Thủy, 2012; Nguyễn Chí Hướng, 2017) chủ yếu tập trung vào khối đại học tổng hợp, đại học y dược hoặc các trường thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Khối trường cao đẳng trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chịu cơ chế quản lý kép (Bộ LĐ-TB&XH quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp theo Thông tư 15/2021/TT-BLĐTBXH và Bộ NN&PTNT quản lý ngành/chủ quản). Điều này làm nảy sinh điểm nghẽn về thể chế phân cấp, chi phí đào tạo kỹ thuật thực hành cao nhưng mức học phí bị khống chế thấp, cùng rủi ro thâm hụt tài chính khi thực thi Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP và Nghị định 60/2021/NĐ-CP.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu (RQ) và giả thuyết nghiên cứu (H) được định hình cụ thể:
- RQ1: Hệ thống chỉ tiêu nào phản ánh toàn diện và chuẩn xác hiệu quả công tác quản lý TCTC tại các trường cao đẳng thuộc Bộ NN&PTNT?
- RQ2: Những nhân tố nào và mức độ tác động của từng nhân tố đến quá trình quản lý TCTC tại các trường cao đẳng thuộc Bộ NN&PTNT diễn ra như thế nào?
- RQ3: Giải pháp đồng bộ nào có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, tối ưu hóa thu - chi và quản lý tài sản công cho các đơn vị này?
Tương ứng với đó là các giả thuyết:
- H1: Chính sách, pháp luật của Nhà nước tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
- H2: Sự phát triển của thị trường lao động tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
- H3: Chiến lược phát triển của nhà trường tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
- H4: Năng lực quản lý của nhà trường tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
- H5: Trình độ và cơ cấu đội ngũ giảng viên tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
- H6: Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) và chuyển giao công nghệ tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
- H7: Điều kiện cơ sở vật chất tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
- H8: Mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp, tổ chức tác động thuận chiều (+) đến hiệu quả quản lý TCTC.
Khung lý thuyết tích hợp thuyết Quản lý tài chính hiện đại (Ezra Solomon, 1963), Lý thuyết Tự chủ giáo dục (Berdahl, 1990; Anderson & Johnson, 2007) và Khung quản trị tự chủ đa chiều của Hiệp hội Đại học Châu Âu (EUA, 2007, 2009, 2012). Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2020 và khảo sát thực nghiệm chuyên sâu tại hệ thống các trường cao đẳng trực thuộc Bộ NN&PTNT trên phạm vi toàn quốc.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước phản ánh sự tiến hóa mạnh mẽ của các trường phái tiếp cận tự chủ tài chính trong giáo dục:
Nhánh nghiên cứu quốc tế: Dựa trên phân loại của Berdahl (1990), tự chủ được bóc tách thành "tự chủ thực chất" (substantive autonomy - quyền xác định sứ mệnh, chương trình đào tạo) và "tự chủ thủ tục" (procedural autonomy - quyền tự chủ quy trình, phân bổ tài chính). Sheehan (1997) và Jongbloed cùng cộng sự (2000) khẳng định TCTC là sự chuyển dịch từ cơ chế cấp phát thụ động sang chủ động huy động nguồn thu xã hội. Estermann và Nokkala (2009) cùng Estermann và Pruvot (2011) trong các báo cáo của EUA đã chuẩn hóa 4 trụ cột tự chủ: tổ chức, tài chính, học thuật và nhân sự.
Về mặt tranh luận học thuật (debates), tồn tại hai luồng quan điểm đối lập:
- Trường phái thị trường hóa giáo dục (Marketization of Education): Tiêu biểu là Peter Lorange Pergamon (2013) và Cotelnic cùng cộng sự (2015), lập luận rằng các cơ sở giáo dục phải vận hành như những thực thể kinh tế độc lập, tích lũy thặng dư, đa dạng hóa thương mại hóa dịch vụ và huy động vốn qua các công cụ tài chính.
- Trường phái phúc lợi công cộng (Public Good Perspective): Đại diện bởi Shengliang Deng (1991) khi nghiên cứu tại Trung Quốc và Arben Malaj, Fatmir Mema, Sybi Hida (2005) tại Albania, chỉ ra rằng việc thả nổi TCTC khi chưa hoàn thiện hành lang pháp lý sẽ dẫn tới phân hóa chất lượng, thương mại hóa tiêu cực và làm suy giảm khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của đối tượng yếu thế. Thêm vào đó, Ellys Rachman và cộng sự (2017) khi phân tích các trường cao đẳng tư thục tại Indonesia nhấn mạnh TCTC đòi hỏi sự cân bằng nghiêm ngặt giữa tự chủ và trách nhiệm giải trình xã hội.
Nhánh nghiên cứu trong nước: Các học giả như Nguyễn Anh Thái (2008), Phạm Văn Khoan và Nguyễn Trọng Thản (2010), Trần Đức Cân (2012), Vũ Thị Thanh Thủy (2012), Chử Thị Hải (2013), Nguyễn Chí Hướng (2017), Trương Thị Hiền (2017), và Cao Thành Văn (2018) đã phân tích sâu các rào cản chi thường xuyên, định mức kinh tế kỹ thuật và cơ chế một giá dịch vụ sự nghiệp công.
Định vị của luận án: Khác với các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính mô tả, nghiên cứu này thực hiện bước nhảy vọt khi: (1) Lượng hóa mô hình tác động đa biến đặc thù cho hệ thống cao đẳng nông nghiệp; (2) Tích hợp vai trò của mối liên kết doanh nghiệp và thị trường lao động kỹ thuật vào cấu trúc quản lý TCTC; (3) Bổ sung công cụ phân tích hiệu quả chi phí (CEA) và phân tích hiệu quả gia quyền (WEA) dựa trên cơ sở lý thuyết của Đặng Văn Du (2004).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng thuyết Quản lý tài chính cổ điển của Ezra Solomon (1963) bằng cách tái định nghĩa phạm trù TCTC trong môi trường đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ giáo dục nghề nghiệp:
"Quản lý TCTC các trường cao đẳng công lập là việc căn cứ vào cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước để huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các hoạt động của nhà trường." (Hoàng Thị Thu Hiên, 2023, tr. 22).
Công trình đã dung hòa định nghĩa của Nguyễn Đình Hưng (2018):
"TCTC của các cơ sở giáo dục công lập là quyền chủ động của các cơ sở giáo dục công lập trong việc khai thác, tìm kiếm và sử dụng các nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ phục vụ cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm đảm bảo được các yêu cầu đặt ra." (tr. 21).
Đóng góp lý thuyết mang tính bước ngoặt thể hiện ở việc chuyển dịch nhận thức từ "tự thu bù chi thuần túy" (Hình Thụ Đông, 1998) sang mô hình quản trị tài chính hướng tới giá trị tổng hợp (Brancato, 1998), trong đó tài chính tự chủ không chỉ là bản quyết toán ngân sách mà bao gồm quy mô đào tạo, tỷ lệ sinh viên có việc làm, năng lực NCKH và mức độ tín nhiệm thương hiệu.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa chiều 3 cấu phần quản trị tài chính cốt lõi với 8 nhóm nhân tố tác động:
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập rõ: Áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập đào tạo nghề kỹ thuật chịu sự quản lý ngành dọc của Bộ chuyên ngành, hoạt động trong cơ chế tự chủ một phần chi thường xuyên (Nhóm 3 theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP) và chuyển dịch dần lên tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên (Nhóm 2).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng lập trường nhận thức luận Hiện thực phản biện (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận Thực chứng (Positivism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa giai đoạn (Sequential Exploratory & Explanatory Mixed Methods) được triển khai bài bản:
- Giai đoạn định tính: Phỏng vấn sâu (PVS) các chuyên gia quản lý thuộc Vụ Kế hoạch, Vụ Tài chính (Bộ NN&PTNT), Ban giám hiệu và Trưởng phòng Tài chính - Kế toán các trường cao đẳng nhằm xây dựng và hiệu chỉnh thang đo.
- Giai đoạn định lượng: Thực hiện qua 2 bước: định lượng sơ bộ để sàng lọc biến và định lượng chính thức để kiểm định giả thuyết.
Quy trình nghiên cứu rigorous
- Chiến lược chọn mẫu: Sử dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) đại diện cho các vùng kinh tế - sinh thái (Bắc, Trung, Nam) của toàn bộ các trường cao đẳng trực thuộc Bộ NN&PTNT giai đoạn 2010–2020.
- Quy trình thu thập dữ liệu: Phiếu khảo sát cấu trúc Likert 5 điểm kết hợp trích xuất báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo quyết toán NSNN giai đoạn 10 năm.
- Kiểm soát độ tin cậy và giá trị: Thang đo được thẩm định giá trị nội dung (content validity), giá trị hội tụ (convergent validity) và giá trị phân biệt (discriminant validity).
Data và phân tích
Dữ liệu được xử lý thông qua phần mềm thống kê chuyên ngành:
- Thống kê mô tả: Phân tích quy mô học sinh - sinh viên, biên chế giảng viên, cơ cấu tổng kinh phí, tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp so với ngân sách nhà nước cấp.
- Kiểm định thang đo: Hệ số tin cậy Cronbach's Alpha đạt chuẩn cho tất cả các biến quan sát; phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) trích xuất các nhân tố với hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) thỏa mãn $0.5 \le \text{KMO} \le 1.0$, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê ($p < 0.001$), phương sai trích (Total Variance Explained) $> 50%$.
- Hồi quy đa biến và kiểm định chẩn đoán: Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor - VIF < 2.0), kiểm tra phân phối chuẩn của phần dư và tính đồng nhất của phương sai nhằm đảm bảo tính vững (robustness) của mô hình OLS.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Kết quả phân tích định lượng và dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2020 đưa ra 5 phát hiện cốt lõi mang tính đột phá:
- Mức độ tác động phân hóa của các nhân tố: Mô hình thực nghiệm chỉ ra rằng Năng lực quản lý của nhà trường ($\beta_1$) và Chính sách, pháp luật của Nhà nước ($\beta_2$) có trọng số tác động lớn nhất và có ý nghĩa thống kê cao nhất ($p < 0.001$) đến tính bền vững của TCTC.
- Thực trạng phụ thuộc nguồn ngân sách (Budget Inertia): Dù thực hiện tự chủ theo lộ trình Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP, tỷ trọng kinh phí NSNN cấp chi thường xuyên giai đoạn 2010–2020 tại các trường vẫn chiếm trên $60% - 75%$ tổng nguồn vốn; nguồn thu dịch vụ sự nghiệp, tư vấn và chuyển giao công nghệ chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn ($< 15%$).
- Ý nghĩa then chốt của mối quan hệ doanh nghiệp: Biến quan sát Khả năng liên kết với doanh nghiệp và Đáp ứng nhu cầu thị trường lao động tạo ra tác động lan tỏa thuận chiều mạnh mẽ đến chỉ tiêu tuyển sinh và khả năng thu hút tài trợ ngoài ngân sách.
- Nghịch lý chi phí ngành nông nghiệp: Luận án phát hiện kết quả phản trực giác: Các ngành đào tạo đặc thù nông - lâm - ngư có chi phí tiêu hao vật tư xưởng thực hành và chi phí duy trì trại thực nghiệm cao gấp $1.8 - 2.5$ lần so với khối kinh tế - dịch vụ, nhưng mức trần học phí bị áp đặt ở mức sàn xã hội, khiến các trường càng tăng quy mô đào tạo nông nghiệp thì áp lực thâm hụt tài chính tự chủ càng lớn.
- Điểm nghẽn pháp lý tài sản công: Quyền tự chủ trong khai thác cơ sở vật chất, nhà xưởng, đất đai phục vụ sản xuất thử nghiệm - chuyển giao công nghệ bị trói buộc bởi các thủ tục thẩm định phức tạp của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, khiến các tài sản sẵn có chưa thể chuyển hóa thành nguồn thu bổ trợ.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Xác lập mô hình kinh tế quản lý giải thích cơ chế tương tác giữa tự chủ thủ tục và năng lực khai thác thị trường trong khu vực giáo dục nghề nghiệp công lập.
- Về mặt phương pháp: Cung cấp bộ công cụ đo lường tích hợp thang đo Likert với phân tích chuỗi thời gian tài chính 10 năm, có thể chuẩn hóa cho các trường cao đẳng thuộc các Bộ ngành khác (Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng).
- Về thực tiễn quản trị:
- Định hình lại Quy chế chi tiêu nội bộ: Chuyển từ phân phối cào bằng sang trả lương và thu nhập tăng thêm theo hiệu suất công việc (KPIs) và năng suất NCKH/chuyển giao công nghệ.
- Xây dựng danh mục giá dịch vụ đào tạo tính đủ chi phí theo lộ trình Nghị định 60/2021/NĐ-CP.
- Về chính sách công:
- Kiến nghị Chính phủ và Bộ LĐ-TB&XH điều chỉnh cơ chế đấu thầu, đặt hàng đào tạo nghề nông nghiệp sử dụng NSNN theo giá thị trường thay vì phân bổ cào bằng theo định mức biên chế.
- Bộ NN&PTNT cần hoàn thiện hành lang phân cấp cho phép các trường cao đẳng khai thác tài sản công vào các đề án liên kết đào tạo - chuyển giao tiến bộ kỹ thuật theo cơ chế đối tác công - tư (PPP).
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:
- Giới hạn không gian và dữ liệu: Khảo sát tập trung vào các trường cao đẳng trực thuộc Bộ NN&PTNT; dữ liệu chuỗi thời gian 2010–2020 chịu sự đứt gãy nhất định bởi các giai đoạn chuyển tiếp giữa các Nghị định quản lý tự chủ (Nghị định 43, Nghị định 16 và bước đầu Nghị định 60).
- Giới hạn mô hình: Mô hình tập trung vào hồi quy tuyến tính OLS; chưa áp dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) hoặc mô hình hồi quy đa cấp (Multilevel Regression) để bóc tách tác động vi mô cấp khoa/phòng ban.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Mở rộng kiểm chứng mô hình trên toàn bộ hệ thống giáo dục nghề nghiệp công lập tại 63 tỉnh thành.
- Ứng dụng mô hình kinh tế lượng phi tuyến để phân tích ngưỡng chịu đựng tài chính (financial threshold) khi các trường chuyển từ tự chủ chi thường xuyên sang tự chủ toàn diện cả chi đầu tư.
- Nghiên cứu sâu cơ chế hợp tác công - tư (PPP) và chuyển đổi số trong quản trị tài chính giáo dục nghề nghiệp.
Tác động và ảnh hưởng
TÁC ĐỘNG ĐA CHIỀU
- Tác động học thuật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cao cho chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản trị công, mở ra hướng nghiên cứu mới về kinh tế giáo dục nghề nghiệp.
- Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc để Bộ NN&PTNT, Vụ Kế hoạch, Vụ Tài chính xây dựng chiến lược quy hoạch mạng lưới và phân bổ ngân sách giai đoạn 2021–2030.
- Tác động quản trị cơ sở: Cung cấp cẩm nang thực hành tái cơ cấu nguồn thu và tối ưu hóa quản lý tài sản công cho đội ngũ Hiệu trưởng, Trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, Học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công: Tiếp cận khung lý thuyết chuẩn hóa, thang đo thực nghiệm đã được kiểm định và quy trình phân tích dữ liệu hỗn hợp.
- Lãnh đạo và Nhà quản lý các trường Cao đẳng, Trung cấp: Nhận diện rõ 8 nhân tố chi phối để chủ động xây dựng đề án TCTC, tái cấu trúc bộ máy và ban hành quy chế tài chính nội bộ minh bạch.
- Các nhà hoạch định chính sách (Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính, Bộ NN&PTNT): Tham chiếu dữ liệu thực chứng 10 năm để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế tự chủ, định mức kinh tế kỹ thuật và giá dịch vụ công.
- Doanh nghiệp nông nghiệp và Hiệp hội ngành nghề: Tìm kiếm cơ hội hợp tác đào tạo theo đơn đặt hàng, liên kết R&D và chuyển giao công nghệ với chi phí tối ưu.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Quản lý tài chính của Ezra Solomon (1963) và Mô hình Khung tự chủ giáo dục của EUA (Estermann & Nokkala, 2009) vào môi trường giáo dục nghề nghiệp công lập đặc thù tại một quốc gia đang phát triển. Đóng góp độc đáo nhất là chứng minh rằng TCTC không phải là việc cắt giảm ngân sách đơn thuần, mà là sự chuyển hóa toàn diện cơ chế tích lũy giá trị thông qua 3 trụ cột: Quản lý nguồn thu đa dạng, Quản lý chi tiêu theo hiệu suất (KPIs), và Khai thác thương mại hóa tài sản công gắn với liên kết doanh nghiệp.
2. Điểm mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?
So sánh với các nghiên cứu của Chử Thị Hải (2013) và Nguyễn Chí Hướng (2017) vốn chỉ dừng lại ở mô tả định tính hoặc phân tích lý thuyết thuần túy, luận án của Hoàng Thị Thu Hiên (2023) đã:
- Thiết kế quy trình định lượng đa biến với 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng.
- Ứng dụng quy trình sàng lọc nghiêm ngặt qua Cronbach's Alpha, EFA, và kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số VIF.
- Kết hợp đồng thời dữ liệu chuỗi thời gian tài chính thực tế 10 năm (2010–2020) với dữ liệu điều tra xã hội học chuyên sâu tại các trường cao đẳng trực thuộc Bộ NN&PTNT.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là "Nghịch lý chi phí đào tạo nghề nông nghiệp": Mặc dù các trường có năng lực NCKH và sở hữu quỹ đất, xưởng thực hành lớn, nhưng do vướng mắc thể chế về quản lý tài sản công và chính sách khống chế học phí, chi phí duy trì thực hành nghề nông nghiệp thực tế cao hơn định mức hỗ trợ của NSNN, dẫn đến việc các ngành nghề cốt lõi của ngành nông nghiệp lại là những ngành gây áp lực thâm hụt tài chính cao nhất khi trường tiến hành TCTC.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản nghiên cứu (replication protocol) không?
Có. Luận án trình bày chi tiết và minh bạch toàn bộ quy trình nghiên cứu tại Chương 3 (từ sơ đồ quy trình, thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn sâu PVS, hệ thống bảng biến quan sát chi tiết cho 8 thang đo Likert, đến quy trình phân tích định lượng EFA và OLS), cho phép các nhà nghiên cứu độc lập dễ dàng lặp lại quy trình này trên các tập mẫu trường cao đẳng khác.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm (10-year research agenda) được định hình ra sao?
Luận án vạch ra lộ trình nghiên cứu tiếp nối xoay quanh 3 trọng tâm:
- Đánh giá tác động dài hạn của Nghị định 60/2021/NĐ-CP đến khả năng sống còn của các trường đào tạo nghề nông nghiệp thuần túy.
- Xây dựng mô hình định giá dịch vụ đào tạo nghề theo cơ chế thị trường và chi phí đầu ra (Outcome-based financing).
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong việc chuyển giao công nghệ nông nghiệp thông minh tại các trường cao đẳng.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về quản lý TCTC tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, cụ thể hóa cho khối trường cao đẳng thuộc Bộ NN&PTNT.
- Xây dựng thành công bộ chỉ tiêu đánh giá quản lý TCTC tích hợp giữa hiệu quả tài chính thu - chi và hiệu quả giải trình xã hội dựa trên phương pháp phân tích chi phí - hiệu quả (CEA) và hiệu quả gia quyền (WEA).
- Kiểm định thực nghiệm thành công mô hình 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quản lý TCTC, xác định Năng lực quản lý của nhà trường và Chính sách pháp luật của Nhà nước là hai biến số chi phối mang tính quyết định.
- Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng tài chính giai đoạn 2010–2020 của khối trường cao đẳng thuộc Bộ NN&PTNT, vạch rõ điểm nghẽn phụ thuộc ngân sách và bất cập trong quản lý tài sản công.
- Đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đột phá gắn với lộ trình thực thi Nghị định 60/2021/NĐ-CP: (a) Đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ và liên kết doanh nghiệp; (b) Tối ưu hóa chi tiêu theo vị trí việc làm và hiệu suất; (c) Hoàn thiện cơ chế ủy quyền quản lý tài sản công và đặt hàng đào tạo từ Nhà nước.
- Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành giá trị cao về tài chính công, quản trị đại học - cao đẳng và kinh tế giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh tái cấu trúc nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam thời kỳ hội nhập.