MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua được sự quan tâm của Nhà nước, Bộ Nông nghiệp & PTNT, UBND thành phố Hà Nội, nhiều công trình thủy lợi đã được đầu tư xây dựng và đưa vào quản lý vận hành phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo tại các vùng ngoại thành của thành phố Hà Nội. Các công trình thủy lợi đã và đang thực sự có những đóng góp quan trọng đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Qua đó, các công trình này có ý nghĩa hết sức thiết thực đối với đời sống của nhân dân trong vùng, thúc đây sự nghiệp xây dựng và phát triển của Thành phó. Tuy vậy, nếu nhìn nhận một cách nghiêm túc và khách quan, những kết quả trên còn ở mức rất khiêm tốn so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Thành phó.
Trên thực tế, khi đi vào vận hành, vẫn còn nhiều công trình thuỷ lợi mới chỉ khai thác được khoảng 60% năng lực thiết kế, hiệu quả mà công trình mang lại thấp hơn hơn nhiều so với kỳ vọng. Thực tế cho thấy rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến tồn tại trên. Một trong những nguyên nhân quan trọng là việc quản lý vận hành các công trình thủy lợi nói trên phạm vi cả nước chung, công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng trong thời gian qua còn nhiều vấn đề cần quan tâm, còn bộc lộ những hạn chế và yếu kém nên chưa phát huy tốt hiệu quả của công trình. Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững và biến đổi khí hậu, đòi hỏi công tác thuỷ lợi mà đặc biệt là công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi phải có những thay đổi căn bản dé nâng cao hiệu quả quản lý khai thác.
Mục đích cuối cùng của việc cải thiện công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi nhằm dap ứng tốt hơn yêu cầu dich vụ cấp, thoát nước trên địa bàn thành phố. Tìm ra những phương thức, biện pháp quản lý vận hành nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của các công trình thủy lợi là một vấn đề rất cấp thiết. Với mong muốn đóng góp những kiến thức học tập và nghiên cứu của mình nhằm tăng cường hoản thiện hơn nữa trong công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi, đó là lý do học viên đã lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện công tác quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Sông Tích " làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. 2 Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi; - Phân tích tình hình thực hiện, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Sông Tích, thành phố Hà Nội; - Đề xuất định hướng, giải pháp nhăm tăng cường công tác quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Sông Tích.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi và các yếu tô ảnh hưởng đến công tác này. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Sông Tích trên địa ban thành phó Hà Nội, giai đoạn từ 2017 - 2022. 4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu - Đề tài nghiên cứu dựa trên tiếp cận đánh giá thực trạng công tác quản lý khai thác của công trình thủy lợi một cách toàn diện cả về kinh tế, xã hội, môi trường trong tình hình hiện nay.
- Phương pháp kế thừa, Phương pháp phân tích tong hợp, Phương pháp phân tích so sánh, nói riêng mà còn là những tải liệu liên quan tham khảo cân thiệt CHUONG 1 TONG QUAN VE CÔNG TAC QUAN LY KHAI THAC CÁC CONG TRÌNH THUY LỢI 1.1 Cơ sở lý luận về công tác quan lý khai thác các công trình thủy lợi 1.1 Một số khái niệm cơ bản Công trình thuỷ lợi: là công trình thuộc kết cầu hạ tang nhằm khai thác nguồn lợi của nước, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng, chống tác hại của nước gây ra như trạm bơm, hồ đập, kênh mương, các công trình trên kênh. Hệ thống thủy lợi: bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định. Quản lý công trình thủy lợi: là quá trình điều hành hệ thống công trình thủy lợi theo một cơ chế phù hợp, bao gồm công tác kế hoạch hóa, điều hành bộ máy, quản lý điều hành, duy tu, bảo dưỡng công trình, quản lý tai sản và tài chính. Khai thác công trình thủy lợi: là quá trình sử dụng công trình thủy lợi vào phục vụ phân phôi điêu hòa nước phục vụ sản xuât nông nghiệp, dân sinh, xã hội.
Quản lý: Là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để phát triển phù hợp thích ứng với điều kiện của quy luật nhằm đạt được mục đích và y chí của người quản lý (VIM, 2008). Theo Suranat, 1993, quản lý là một quá trình nhăm đề đạt được các mục đích của một tô chức thông qua việc thực hiện chức năng cơ bản là kế hoạch hóa, tổ chức, điều hành và kiểm tra đánh giá.2 Đặc điểm của các công trình thủy lợi Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cho nhiều đối tượng. Trước kia công trình chỉ phục vụ cho nhu cầu tưới, tiêu nông nghiệp, dân sinh nhưng hiện nay đã cung cấp nước cho các khu công khiệp, cap nước sinh hoạt, thủy sản, tiêu cho các khu dân cư và khu đô thị, khu công nghiệp, giao thông, du lịch. Hệ thống công trình thủy lợi nhằm cải tạo thiên nhiên, khai thác các mặt lợi và khắc phục các mặt hai đê phục vụ cho nhu câu của con người.
Hệ thống công trình thủy lợi phải thường xuyên đối mặt trực tiếp với sự tàn phá của thiên nhiên, trong đó có sự phá hoại thường xuyên và sự phá hoại bất thường. Hệ thống công trình thủy lợi có giá trị lớn tuy nhiên vốn lưu động ít, lại quay vòng chậm. Dé có kinh phí hoạt động, bảo dưỡng, duy tu, duy trì, quản lý khai thác có những lúc các don vi quản lý công trình phải vay ngân hang và trả lãi cao. Công trình thủy lợi là kết quả tổng hợp và có mối quan hệ mật thiết hữu cơ về lao động của rất nhiều người trong nhiều lĩnh vực, bao gồm từ các công tác quy hoạch, nghiên cứu khoa học, khảo sat, thiết kế, chế tạo, thi công, đến quản lý khai thác.
Sản pham của công tác khai thác công trình thủy lợi là hàng hóa đặc biệt có tinh chất đặc thù riêng biệt. Sản phẩm là khối lượng nước tưới, tiêu phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cho sinh hoạt. Chứa đựng rất nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật xây dựng khác nhau. Ngoài công tác quản lý và sử dụng, các công trình thủy lợi còn mang tính chất quần chúng.
Đơn vị quản lý phải dựa vào dân, vào chính quyền địa phương sở tại dé làm tốt việc điều hành tưới, tiêu, thanh quyết toán thủy lợi phí, tu sửa bảo dưỡng công trình và quản lý bảo vệ công trình. Do đó, đơn vi quản ly khai thác các công trình thủy lợi không những phải làm tốt công tác chuyên môn mà còn phải làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, trong hệ thống. Vốn đầu tư thường là rất lớn theo điều kiện cụ thể của từng vùng, để có công trình khép kín trên địa bàn mỗi ha diện tích được tưới thì bình quân phải đầu tư thấp nhất 30 — 50 triệu đồng, cao là 100 — 200 triệu đồng. Các công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, trong đó tưới, tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất, môi trường sinh thái.
Công trình thủy lợi muốn phát huy hiệu quả phải được xây dựng đồng bộ khép kín từ đâu môi đên tận mặt ruộng. Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo thiết kế không thé di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếu nước theo yêu cầu thời vụ, phải đều có một tô chức Nhà nước, tập thể hay cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo nhu câu của các hộ sử dụng nước trong lưu vực mà công trình phụ trách. Nhiều nông dân, nhiều hộ dung nước được hưởng lợi từ một công trình thủy lợi hay nói cách khác một công trình thủy lợi phục vụ cho nhiềuo người dân trong cùng một khoảng thời gian. Hệ thống công trình thủy lợi nằm rải rác ngoài trời, giữa các cánh đồng trên diện rộng, có khi qua các khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp, khu làng nghề, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động của con người.
Hiệu quả của công trình thủy lợi hết sức lớn lao và đa dạng, có loại có thé xác định được bằng tiền hoặc khối lượng vật chất cụ thể, nhưng có loại không xác định được. Riêng về lĩnh vực tưới thì hiệu quả thực hiện ở mức độ tưới hết diện tích, tạo khả năng tăng vụ, câp nước kịp thời đảm bảo yêu câu dùng nước của một sô loại cây trông, chi phí quản lý thấp, tăng năng suất và sản lượng cây trồng. góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân nông thôn. Việc quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi của cộng đồng này có ảnh hưởng tới việc quản lý và sử dụng các công trình của cộng đông khác.
Các công trình thủy lợi không được mua bán như các công trình khác. Do đó hình thức tốt nhất để quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi là của cộng đồng, cộng đồng tham gia.