Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính ở Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu và thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Bích, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Minh Hương và PGS. Nguyễn Minh Đoan. Công trình được hoàn thành và bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Tư pháp / Bộ Giáo dục và Đào tạo) vào năm 2012, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 62 38 01 01).

Thực thể nghiên cứu: Luận án Tiến sĩ Luật học
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (Mã số: 62 38 01 01)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Người hướng dẫn: TS. Trần Minh Hương; PGS. Nguyễn Minh Đoan
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm bảo vệ: 2012

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh nghiên cứu của đề tài xuất phát từ quá trình hơn hai mươi năm đổi mới toàn diện và đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước tại Việt Nam. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường làm gia tăng và đa dạng hóa các nhu cầu của cá nhân, tổ chức đối với các quan hệ dân sự, kinh tế và đời sống xã hội; đồng thời nhân dân chủ động hơn trong việc yêu cầu dân chủ, công khai, minh bạch từ phía công quyền. Mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi bộ máy nhà nước phải chuyển đổi phương thức hoạt động từ quản lý thuần túy sang phục vụ xã hội và nhân dân, dẫn đến sự ra đời của dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính.

Tính cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính được luận án luận giải qua ba lý do chủ yếu:

  1. Pháp luật hiện hành được ban hành trong giai đoạn đầu hình thành dịch vụ công hành chính nên bộc lộ nhiều hạn chế do nhận thức chưa toàn diện; trong khi nhu cầu của xã hội ngày càng tăng cao, đòi hỏi phải bổ sung các quy định mới và bãi bỏ các quy định lạc hậu.
  2. Xu thế phát triển tất yếu của nền hành chính đòi hỏi phải đề cao chức năng phục vụ, đẩy mạnh xã hội hóa, tách dịch vụ công ra khỏi nhiệm vụ quản lý thuần túy theo định hướng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.
  3. Quá trình chuyển đổi toàn diện thể chế tại Việt Nam đặt ra yêu cầu đồng bộ hóa toàn bộ hệ thống pháp luật; việc hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính có tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy hoàn thiện các chế định pháp luật liên quan.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp khoa học, khách quan và khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính, khắc phục các bất cập trong thực tiễn áp dụng, bảo đảm cung cấp dịch vụ công có chất lượng cao và đúng pháp luật.

Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án tập trung giải quyết 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính; xác định phạm vi các dịch vụ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội để xác lập yêu cầu hoàn thiện pháp luật.
  2. Làm rõ đặc điểm, vai trò, nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành; đánh giá toàn diện thành tựu, hạn chế, bất cập trong xây dựng và thi hành pháp luật, đồng thời chỉ ra nguyên nhân khách quan và chủ quan.
  3. Phân tích các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, các yếu tố tác động và quan điểm chỉ đạo quá trình hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính trong giai đoạn hiện nay.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, tư tưởng khoa học về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính; hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính (bao gồm các quy định chung và quy định điều chỉnh từng dịch vụ cụ thể); thực tiễn thực hiện pháp luật về cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Tập trung vào thực tiễn pháp luật và tổ chức thực hiện tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia (Cộng hòa Pháp, CHLB Đức, Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Italia, Canada và Liên minh châu Âu).
    • Về thời gian: Khảo sát tiến trình phát triển thể chế từ giai đoạn bắt đầu đổi mới, trọng tâm là giai đoạn thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 2001 - 2010 đến thời điểm năm 2012.
    • Về nội dung: Tập trung làm rõ các quy định pháp luật thực định, những khiếm khuyết thể chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Chương 1 của luận án điểm luận chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến dịch vụ công và pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính.

Nhóm công trình Tác giả, tài liệu tiêu biểu Nội dung chính được điểm luận
Nghiên cứu quốc tế về dịch vụ công ở Châu Âu - Martine Lombard & Gilles Dumont (2007), Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp.
- Elie Cohen, Claude Henry, Francois Morin, Paul Champsaur (2000), Dịch vụ công cộng và khu vực quốc doanh.
- William R. Fannin & Carol B. Gilmore (1985), Journal of Business Ethics.
- Claude Henry (1997), International Advances in Economic Research Journal.
- Phân tích nguồn gốc, bản chất, nguyên tắc cung cấp dịch vụ công (tính liên tục, tính bình đẳng, tính thích ứng).
- Làm rõ sự chuyển dịch từ độc quyền nhà nước sang mở rộng xã hội hóa và nguyên tắc cạnh tranh có sự kiểm soát của pháp luật.
- Phân tích sự kết hợp giữa luật công và luật tư trong điều chỉnh dịch vụ công.
Sách tham khảo lý luận và quản lý tại Việt Nam - TS. Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên, 2002), Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công.
- PGS.TS Lê Chi Mai (2002, 2003), Chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước; Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam.
- TS. Chu Văn Thành (chủ biên, 2004; tác giả, 2007), Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công; Dịch vụ công - Đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay.
- Nhận diện bản chất, phân loại dịch vụ công (dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ hành chính công).
- Đánh giá các mô hình thí điểm dịch vụ công tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ quản lý học và kinh tế học, chưa tập trung phân tích sâu hệ thống quy phạm pháp luật thực định.
Đề tài khoa học và báo cáo điều tra thực nghiệm - GS.TS Nguyễn Đình Phan, Đề tài cấp Bộ: Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công TP. Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập.
- TS. Nguyễn Văn Quang, Đề tài cấp trường ĐH Luật Hà Nội: Hoàn thiện khung pháp luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam.
- VCCI: Báo cáo LDEA 2010 (14 Bộ, 124 hiệp hội, 77.000 doanh nghiệp); Báo cáo MEI 2011 (207 hiệp hội, 419.000 doanh nghiệp).
- CECODES, MTTQ Việt Nam, UNDP: Báo cáo PAPI 2009 - 2010.
- Lê Dân, Tạp chí KH&CN ĐH Đà Nẵng.
- Khảo sát thực trạng giải quyết thủ tục hành chính, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước.
- Đo lường chất lượng 3 dịch vụ cụ thể trong PAPI (cấp phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công chứng/chứng thực).
- Đánh giá thực tiễn thi hành nhưng chưa đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật dưới góc độ lý luận lập pháp.
Nghiên cứu chuyên ngành về từng dịch vụ cụ thể - Công chứng, chứng thực: Nguyễn Văn Tùng; Tuấn Đạo Thanh (2006, 2011); Dự án điều tra cơ bản năm 2010 của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) tại 7 tỉnh, thành phố.
- Đăng ký kinh doanh: Nguyễn Đình Cung (2003, Dự án Vie01/025); Dương Đăng Huệ & Nguyễn Lê Trung (2004); Nguyễn Thế Anh (2007); Hồ Cẩm Vân (2010).
- Cấp GCN quyền sử dụng đất: Phạm Thu Thủy (2004); Nguyễn Thị Thanh (2005).
- Đăng ký giao dịch bảo đảm: Cục Đăng ký QGGDBĐ (2007); Nguyễn Thúy Hiền (2006); Lê Hằng Hạnh (2008); Hoàng Thị Ngọc Phượng (2009).
- Phân tích chi tiết quy định pháp luật chuyên ngành điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể.
- Đánh giá tác động của Luật Công chứng 2006, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đất đai 2003 đối với thực tiễn.
- Các công trình tiếp cận đơn lẻ theo ngành luật chuyên biệt, chưa đặt các dịch vụ trong chỉnh thể khái niệm dịch vụ công hành chính để xây dựng tiêu chí hoàn thiện pháp luật toàn diện.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào dịch vụ công cộng (dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp), hoặc tiếp cận dịch vụ hành chính dưới góc độ khoa học quản lý và kinh tế học. Các công trình luật học chuyên ngành mới chỉ phân tích từng hoạt động riêng lẻ (công chứng, đăng ký kinh doanh, cấp quyền sử dụng đất) mà chưa nhìn nhận chúng dưới thuộc tính chung của dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng cơ sở lý luận hoàn chỉnh về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính và pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này theo chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, từ đó đánh giá thực trạng hệ thống văn bản và đề xuất giải pháp lập pháp mang tính đồng bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

  • Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư duy duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nhìn nhận các hiện tượng nhà nước và pháp luật trong sự vận động, phát triển và tác động qua lại với các điều kiện kinh tế - xã hội.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; cải cách hành chính nhà nước và xã hội hóa dịch vụ công.
  • Tiếp thu lý thuyết về "Nhà nước phúc lợi chung" và các học thuyết pháp lý hiện đại về dịch vụ công tại các quốc gia phát triển, nhấn mạnh tính chất phục vụ xã hội của bộ máy hành chính nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học pháp lý:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ cấu trúc khái niệm, đặc trưng pháp lý, nội dung các quy phạm pháp luật và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh quy định pháp luật và mô hình cung cấp dịch vụ công của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới (Pháp, Đức, Mỹ, Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Italia) nhằm tìm kiếm kinh nghiệm lập pháp phù hợp.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, đối chiếu và sử dụng dữ liệu định lượng từ các dự án khảo sát, báo cáo thực nghiệm quy mô lớn đã công bố (LDEA 2010, MEI 2011, PAPI 2010, dự án điều tra năm 2010 của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp).
  • Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn: Đối chiếu giữa quy định trên văn bản với thực tiễn tổ chức thực hiện dịch vụ công tại các cơ quan hành chính và tổ chức dịch vụ công.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp, các đạo luật chuyên ngành (Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Doanh nghiệp, Luật Công chứng...), các Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 45-HĐBT, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 43/2011/NĐ-CP...).
  • Các công trình sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành luật học, các luận án, luận văn liên quan.
  • Dữ liệu khảo sát từ các chỉ số đo lường hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh, đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương này dành cho việc tổng hợp và phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả phân chia tổng quan nghiên cứu thành hai mảng lớn: (1) Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài về dịch vụ công tại châu Âu, làm rõ các khái niệm, nguyên tắc (liên tục, bình đẳng, thích ứng), quá trình tư nhân hóa, xã hội hóa và vai trò của pháp luật Liên minh châu Âu; (2) Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, bao gồm sách tham khảo, đề tài khoa học cấp Bộ/trường, các dự án khảo sát thực tế (LDEA 2010, MEI 2011, PAPI 2010) và các công trình pháp luật chuyên ngành về công chứng, đăng ký kinh doanh, đăng ký quyền sử dụng đất, đăng ký giao dịch bảo đảm. Tác giả khẳng định đề tài của luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, độc lập dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật về việc hoàn thiện hệ thống thể chế điều chỉnh dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính.

Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC HÀNH CHÍNH

Chương 2 thiết lập khung lý luận toàn diện cho toàn bộ luận án thông qua 3 nội dung trọng tâm:

1. Dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính:

  • Khái niệm và đặc trưng: Dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính là hoạt động phục vụ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và bảo đảm mục đích quản lý nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức được ủy quyền cung cấp. Dịch vụ công hành chính có hai mặt không tách rời: vừa phục vụ quyền lợi của đối tượng yêu cầu, vừa thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước.
  • Nguyên tắc kinh tế: Quan hệ cung ứng dịch vụ công hành chính không phải là quan hệ thỏa thuận ngang giá theo cơ chế thị trường thuần túy. Phí và lệ phí do Nhà nước ấn định thông qua văn bản quy phạm pháp luật, chỉ mang tính chất bù đắp một phần chi phí thực tế mà không phản ánh giá thị trường.
  • Phân loại 4 nhóm dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính:
    1. Nhóm dịch vụ cấp giấy phép: Đặt ra trong hai trường hợp (ngoại lệ đối với điều cấm chung hoặc kiểm soát hoạt động không cấm trong phạm vi nhất định). Đây là nhóm thể hiện đậm nét quyền lực hành chính và do cơ quan nhà nước thực hiện trực tiếp (ví dụ: cấp phép xây dựng, cấp phép khai thác khoáng sản, cấp phép vận tải...).
    2. Nhóm dịch vụ đăng ký và cấp giấy chứng nhận: Ghi nhận các thông tin nhân thân, tài sản giá trị lớn hoặc sự kiện pháp lý nhằm xác lập sự thừa nhận và bảo hộ của Nhà nước (ví dụ: đăng ký khai sinh, kết hôn; cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký giao dịch bảo đảm, cấp mã số thuế, thông quan hải quan...).
    3. Nhóm dịch vụ công chứng, chứng thực: Chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, bản sao và chữ ký. Dịch vụ này đã có sự phân định thẩm quyền rõ rệt giữa Phòng công chứng/Văn phòng công chứng (theo Luật Công chứng 2006) và UBND cấp xã/huyện (theo Nghị định 79/2007/NĐ-CP), cùng việc thí điểm mô hình thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh theo Nghị định 61/2009/NĐ-CP.
    4. Nhóm dịch vụ tư vấn, hỗ trợ: Bao gồm trợ giúp pháp lý, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, tư vấn chính sách pháp luật phi lợi nhuận và cung cấp thông tin quản lý nhà nước (thông tin đại chúng không thu phí và thông tin theo yêu cầu riêng có thu phí).
  • Loại trừ hoạt động quyền lực thuần túy: Luận án lập luận rằng các hoạt động thu thuế, xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo mang tính mệnh lệnh cưỡng chế đơn phương và đặc quyền quyền lực nhà nước, không phải là dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính.

2. Pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính:

  • Là hệ thống các quy tắc xử sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức, cung cấp và quản lý nhà nước đối với dịch vụ công hành chính.
  • Pháp luật về dịch vụ công hành chính mang tính tổng hợp: kết hợp quy phạm luật công (thủ tục, thẩm quyền, kiểm tra, thanh tra) và quy phạm luật tư (quyền và lợi ích của bên thụ hưởng dịch vụ).
  • Hình thức văn bản: Thể hiện thông qua các đạo luật chuyên ngành (Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp...) kết hợp văn bản hướng dẫn thi hành; luật riêng điều chỉnh từng lĩnh vực (Luật Công chứng); hoặc văn bản quy định phương thức cung cấp chung như Nghị định số 43/2011/NĐ-CP về dịch vụ công trực tuyến.

3. Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và các yếu tố tác động:

  • Xác định hệ thống tiêu chí: tính toàn diện, tính thống nhất, tính phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội, tính minh bạch, khả năng tiếp cận và hiệu quả thực thi.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: trình độ phát triển kinh tế thị trường, nhận thức lý luận của đội ngũ cán bộ lập pháp và hành pháp, sự phát triển của công nghệ thông tin và mức độ tham gia của các tổ chức xã hội.

Chương 3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3 khảo sát thực tế xây dựng và thực hiện pháp luật tại Việt Nam:

  • Quá trình hình thành và nội dung cơ bản: Phân tích tiến trình thể chế hóa các nhóm dịch vụ công từ các văn bản đơn lẻ thời kỳ đầu (như Nghị định 45-HĐBT năm 1991 về công chứng) đến hệ thống văn bản pháp luật hiện hành.
  • Những thành tựu đạt được: Thể chế pháp luật từng bước được định hình; quy trình thủ tục hành chính được chuẩn hóa; bước đầu phân định giữa dịch vụ công chứng và chứng thực; tạo lập cơ sở pháp lý cho sự tham gia của khu vực tư nhân vào một số lĩnh vực (văn phòng công chứng, thí điểm thừa phát lại); triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong cung ứng dịch vụ công trực tuyến.
  • Những hạn chế, bất cập:
    • Quy định pháp luật còn tản mạn, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản luật chuyên ngành và văn bản dưới luật.
    • Nhận thức và quy định pháp luật về xã hội hóa còn dè dặt, thiếu cơ chế bình đẳng giữa tổ chức dịch vụ công nhà nước và tư nhân.
    • Thủ tục hành chính trong một số dịch vụ (đặc biệt là đăng ký quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng) còn phức tạp, thời gian giải quyết kéo dài, tính minh bạch chưa cao.
    • Cơ chế kiểm soát, giám sát và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ chưa thực sự chặt chẽ.
  • Nguyên nhân của bất cập: Phân tích rõ các nguyên nhân khách quan (kinh tế chuyển đổi, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, áp lực khối lượng công việc gia tăng) và nguyên nhân chủ quan (tư duy quản lý bao cấp chậm đổi mới, năng lực lập pháp hạn chế, thiếu một chiến lược lập pháp tổng thể về dịch vụ công hành chính).

Chương 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 4 đưa ra phương hướng và hệ thống giải pháp cụ thể:

  • Quan điểm chỉ đạo:
    • Quán triệt đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ nhân dân.
    • Hoàn thiện pháp luật gắn liền với yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính và đổi mới phương thức quản trị quốc gia.
    • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi của hệ thống pháp luật.
    • Thúc đẩy xã hội hóa mạnh mẽ các dịch vụ công mà xã hội có khả năng đảm nhận, chuyển giao dần các nhiệm vụ không nhất thiết phải do cơ quan hành chính trực tiếp thực hiện.
  • Hệ thống giải pháp hoàn thiện:
    1. Xây dựng chương trình, kế hoạch riêng: Đề xuất lập chương trình, kế hoạch độc lập về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính trong tổng thể chương trình lập pháp của Nhà nước.
    2. Hệ thống hóa và công khai hóa: Tiến hành tập hợp, pháp điển hóa và công bố công khai toàn bộ các quy định pháp luật về từng dịch vụ trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước và các tổ chức cung cấp dịch vụ công.
    3. Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật thực định: Hoàn thiện các văn bản điều chỉnh từng nhóm dịch vụ (sửa đổi quy định về cấp phép theo hướng thu hẹp phạm vi ngành nghề có điều kiện; đơn giản hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký kinh doanh; mở rộng mô hình xã hội hóa công chứng, chứng thực và thừa phát lại).
    4. Đổi mới cơ chế tài chính: Hoàn thiện quy định về phí, lệ phí theo hướng tính toán đúng bản chất bù đắp chi phí, có cơ chế hỗ trợ tài chính hoặc ưu đãi thuế cho các tổ chức cung cấp dịch vụ phục vụ đối tượng chính sách.
    5. Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật: Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin theo tinh thần Nghị định 43/2011/NĐ-CP để phát triển dịch vụ công trực tuyến; tăng cường kiểm tra, thanh tra và chế tài xử lý nghiêm minh các vi phạm của công chức trong quá trình cung cấp dịch vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án xây dựng khái niệm dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính mang tính độc lập khoa học, không đồng nhất hoàn toàn với các định nghĩa kỹ thuật trong các văn bản quản lý hành chính hiện hành.
  • Phân định rõ 4 nhóm dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính cơ bản (cấp phép; đăng ký và cấp giấy chứng nhận; công chứng, chứng thực; tư vấn, hỗ trợ) phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội Việt Nam; đồng thời phân định ranh giới giữa dịch vụ công hành chính với các hoạt động quản lý quyền lực nhà nước thuần túy (thu thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử phạt vi phạm hành chính).
  • Làm sáng tỏ khái niệm, đặc trưng, hình thức và nội dung của pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính, chỉ ra sự đan xen giữa phương pháp điều chỉnh của luật công và luật tư.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí khoa học đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật điều chỉnh dịch vụ công hành chính.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với các tiêu chí khoa học và số liệu khảo sát thực chứng.
  • Đề xuất giải pháp mang tính sáng tạo về mặt tổ chức lập pháp: xây dựng chương trình, kế hoạch riêng cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính.
  • Đề xuất phương thức tập hợp, hệ thống hóa và công bố pháp luật đối với từng dịch vụ cụ thể trên các cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước và tổ chức cung cấp dịch vụ công.
  • Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định chuyên ngành trong các lĩnh vực cấp phép, đất đai, đăng ký kinh doanh, công chứng, chứng thực và dịch vụ công trực tuyến.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được hoàn thành năm 2012, các nguồn dữ liệu khảo sát thực nghiệm và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định được trích dẫn và phân tích chủ yếu phản ánh giai đoạn cải cách hành chính 2001 - 2010 và các năm đầu của giai đoạn tiếp theo (như LDEA 2010, MEI 2011, PAPI 2010, Nghị định 61/2009/NĐ-CP, Nghị định 43/2011/NĐ-CP). Các mô hình mới thí điểm (như chế định thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh) tại thời điểm nghiên cứu chưa được triển khai rộng rãi trên phạm vi toàn quốc nên nguồn dữ liệu tổng kết thực tiễn còn có giới hạn nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện khung pháp luật đối với các mô hình xã hội hóa mới khi được nhân rộng toàn quốc sau giai đoạn thí điểm.
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật cho việc xây dựng chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao theo xu hướng phát triển công nghệ thông tin.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành luật học và khoa học quản lý: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống về lý luận dịch vụ công, phương pháp phân loại dịch vụ công hành chính và kỹ thuật phân tích thể chế pháp luật.
  • Giảng viên và các nhà nghiên cứu: Sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu các môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính, Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và Quản lý hành chính công.
  • Cơ quan hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức: Cung cấp cơ sở lý luận và các tiêu chí thực tế để đổi mới quy trình cung ứng dịch vụ công, xác định đúng thẩm quyền, nâng cao thái độ và chất lượng phục vụ nhân dân.
  • Các tổ chức dịch vụ công (Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, Văn phòng thừa phát lại, Trung tâm trợ giúp pháp lý...): Giúp nhận thức đúng bản chất hoạt động nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ pháp lý trong mối quan hệ với cơ quan quản lý nhà nước và người thụ hưởng dịch vụ.
  • Cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Tham khảo các kiến nghị cụ thể về xây dựng chương trình lập pháp, kỹ thuật lập quy và các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. Dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính được luận án phân chia thành những nhóm cơ bản nào?
Trả lời: Dựa vào nội dung hoạt động, luận án phân chia dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính ở Việt Nam thành 4 nhóm cơ bản: (1) Nhóm dịch vụ cấp giấy phép; (2) Nhóm dịch vụ đăng ký và cấp giấy chứng nhận; (3) Nhóm dịch vụ công chứng, chứng thực; (4) Nhóm dịch vụ tư vấn, hỗ trợ.

2. Tại sao luận án khẳng định hoạt động thu thuế và giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử phạt vi phạm hành chính không phải là dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính?
Trả lời: Luận án lập luận rằng thu thuế là nghĩa vụ đóng góp bắt buộc và là đặc quyền của Nhà nước đối với dân cư, không có mục đích thỏa mãn trực tiếp lợi ích cá nhân của người nộp. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo thể hiện tính quyền lực nhà nước, tính đơn phương bắt buộc và cưỡng chế hành chính, không mang bản chất phục vụ theo yêu cầu bình đẳng của quan hệ dịch vụ công. Các cơ quan chỉ cung cấp dịch vụ công hỗ trợ đi kèm (như cấp mã số thuế, tư vấn chính sách thuế, hướng dẫn thủ tục khiếu nại).

3. Cơ chế xác định phí và lệ phí trong dịch vụ công hành chính được tác giả luận giải như thế nào?
Trả lời: Dịch vụ công hành chính không được cung cấp dựa trên quan hệ thỏa thuận ngang giá thị trường. Mức phí, lệ phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ấn định thống nhất bằng văn bản quy phạm pháp luật, chỉ mang tính chất bù đắp một phần chi phí tổ chức thực hiện chứ không phản ánh toàn bộ giá thành sản xuất dịch vụ. Các chủ thể cung cấp (kể cả tổ chức ngoài nhà nước) không có quyền tự ý thay đổi mức thu nếu cơ quan có thẩm quyền chưa sửa đổi quy định.

4. Những nguồn dữ liệu khảo sát thực nghiệm lớn nào được tác giả sử dụng để đánh giá thực trạng thi hành pháp luật?
Trả lời: Tác giả sử dụng dữ liệu từ: Báo cáo LDEA 2010 (khảo sát 124 hiệp hội doanh nghiệp đại diện cho 77.000 doanh nghiệp đối với 14 Bộ); Báo cáo MEI 2011 (khảo sát 207 hiệp hội đại diện cho 419.000 doanh nghiệp); Chỉ số PAPI 2009 - 2010 (khảo sát người dân tại 30 tỉnh, thành phố); và Dự án điều tra cơ bản năm 2010 của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp tại 7 tỉnh, thành phố với 4 nhóm đối tượng.

5. Đề xuất mang tính mới về mặt kỹ thuật tổ chức lập pháp của luận án là gì?
Trả lời: Tác giả đề xuất xây dựng chương trình, kế hoạch riêng cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính trong tổng thể chương trình lập pháp; đồng thời thực hiện cơ chế tập hợp, pháp điển hóa và công bố công khai toàn bộ các văn bản quy định về từng dịch vụ trên cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước và các tổ chức cung cấp dịch vụ công.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Bích là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính tại Việt Nam. Bằng việc làm rõ bản chất phục vụ kết hợp quản lý nhà nước và phân định 4 nhóm dịch vụ công cốt lõi, công trình đã xác lập cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật thực định và hoạt động thi hành pháp luật. Các quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp lập pháp, tổ chức thực hiện được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng phục vụ tiến trình cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.