Cải Thiện Hệ Thống Ánh Sáng Nhân Tạo Tại Công Ty May Vĩnh Phú

Chuyên khảo phân tích Kl luong thi phuong hanh 610656b, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Bảo Hộ Lao Động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tốt Nghiệp

2006

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU

1.1. Vài nét về công tác BHLĐ trong ngành may

1.2. Tình hình về AT-VSLĐ trong ngành may ở nước ta

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Nội dung – phương pháp nghiên cứu

2.3. Đối tượng nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: SƠ LƯỢC VÀI NÉT VỀ CÔNG TY MAY VĨNH PHÚ

3.1. Sơ lược về công ty

3.1.1. Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển công ty

3.1.1.1. Quá trình hình thành
3.1.1.2. Quá trình phát triển

3.1.2. Tổ chức nhân sự và chức năng

3.1.2.1. Tổ chức nhân sự
3.1.2.2. Chức năng phòng ban
3.1.2.3. Nguồn lao động
3.1.2.4. Máy móc thiết bị chủ yếu

3.2. Mô tả sơ lược về quy trình công nghệ sản xuất

3.2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất

3.2.2. Sơ đồ công nghệ may áo hoàn thành

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG GHI NHẬN VỀ CÔNG TÁC VSLĐ, MTLĐ VÀ SỨC KHOẺ BỆNH TẬT TẠI CÔNG TY MAY VĨNH PHÚ

4.1. Hệ thống văn bản pháp quy về ATVSLĐ

4.1.1. Các văn bản dưới luật

4.1.2. Các văn bản riêng của công ty

4.2. Công tác tổ chức triển khai BHLĐ tại công ty

4.2.1. Mạng lưới AT-VSLĐ

4.2.2. Công tác quản lý các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt

4.2.3. Công tác phòng chống cháy nổ

4.3. Môi trường tổng thể tại công ty

4.3.1. Nhận thức của cán bộ - công nhân viên về ATVSLĐ

4.3.2. Công tác thông tin tuyên truyền huấn luyện

4.3.3. Công tác bảo vệ môi trường

4.3.4. Vệ sinh mặt bằng sản xuất

4.3.5. Chất thải rắn - nước thải - khí thải

4.3.5.1. Chất thải rắn

4.3.6. Vệ sinh nhà ăn tập thể

4.3.7. Nhà vệ sinh

4.4. Môi trường lao động của công nhân tại công ty

4.4.1. Đánh giá điều kiện lao động (tính theo công thức Pukhov)

4.4.2. Điều kiện làm việc của công nhân tại công ty

4.4.2.1. Giờ giấc làm việc
4.4.2.2. Cường độ làm việc
4.4.2.3. Tư thế lao động – Ergonomi
4.4.2.4. Thực trạng cấp phát PTBVCN

4.4.3. Quan hệ giữa công nhân với công ty

4.4.4. Tình hình tai nạn lao động

4.4.5. Công tác quản lý sức khoẻ- bệnh tật tại công ty

4.4.5.1. Công tác quản lý sức khoẻ
4.4.5.2. Các bệnh chính của công nhân

4.4.6. Những nhận xét ban đầu

4.8. Hệ thống chiếu sáng tại công ty

5. CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ATVSLĐ TRONG CÔNG TY

5.1. Hệ thống chiếu sáng

5.1.1. Các khái niệm cơ bản về ánh sáng và sinh lí mắt

5.1.2. Sự nhìn của mắt

5.1.3. Khả năng nhìn

5.1.4. Quan hệ giữa chiếu sáng và sự nhìn của mắt

5.2. Phương pháp định chuẩn theo khả năng nhìn

5.3. Mấy ý kiến về hệ thống chiếu sáng trong xưởng

5.3.1. Chiếu sáng tự nhiên

5.3.2. Khái quát ánh sáng nhân tạo

5.3.3. Thiết kế sơ bộ chiếu sáng nhân tạo tại phân xưởng may

5.3.3.1. Chọn mức độ chiếu sáng yêu cầu (độ rọi yêu cầu) cho phân xưởng
5.3.3.2. Chọn kiểu bóng đèn
5.3.3.3. Chọn độ cao treo đèn
5.3.3.4. Bố trí đèn và xác định số lượng đèn
5.3.3.5. Xác định tổng quang thông của các đèn trong phân xưởng

5.4. Tổ chức, quản lý công tác ATVSLĐ tại công ty

5.5. Phòng ngừa TNLĐ

5.6. Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường

5.7. Chọn kích thước bàn ghế căn cứ theo số đo nhân trắc công nhân

5.8. Sử dụng âm nhạc thư giãn kết hợp tập thể dục giữa giờ

6. CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

6.1. Môi trường lao động còn yếu tố độc hại

6.2. Việc cung cấp PTBVCN chưa đầy đủ cho các loại ngành nghề

6.3. Về VSLĐ, BVMT, cải thiện ĐKLV đã có quan tâm nhưng chưa có hiệu quả cao, chưa giải quyết được nhiều vấn đề như

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hệ Thống Ánh Sáng Nhân Tạo Tại Công Ty May Vĩnh Phú

Hệ thống ánh sáng nhân tạo đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và hiệu suất làm việc tại công ty may Vĩnh Phú. Ánh sáng không chỉ ảnh hưởng đến năng suất lao động mà còn tác động đến sức khỏe của công nhân. Việc cải thiện hệ thống ánh sáng sẽ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm thiểu tai nạn lao động.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Ánh Sáng Trong Ngành May

Ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhìn và sự tập trung của công nhân. Một hệ thống ánh sáng tốt sẽ giúp giảm mệt mỏi mắt và tăng cường hiệu suất làm việc.

1.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hệ Thống Ánh Sáng

Các yếu tố như loại bóng đèn, độ cao treo đèn và bố trí đèn trong không gian làm việc đều ảnh hưởng đến hiệu quả chiếu sáng. Việc lựa chọn đúng loại đèn LED có thể tiết kiệm năng lượng và cải thiện chất lượng ánh sáng.

II. Vấn Đề Ánh Sáng Tại Công Ty May Vĩnh Phú Thách Thức Và Giải Pháp

Mặc dù công ty đã có hệ thống ánh sáng nhân tạo, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện. Nhiều khu vực làm việc thiếu ánh sáng đủ, dẫn đến tình trạng mệt mỏi và giảm năng suất lao động. Việc nhận diện và giải quyết các vấn đề này là rất cần thiết.

2.1. Tình Trạng Thiếu Ánh Sáng Trong Các Phân Xưởng

Nhiều phân xưởng tại công ty vẫn sử dụng bóng đèn cũ, không đủ độ sáng cần thiết. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn gây ra các vấn đề về sức khỏe cho công nhân.

2.2. Nguyên Nhân Gây Ra Vấn Đề Ánh Sáng

Nguyên nhân chính bao gồm việc thiếu đầu tư vào hệ thống chiếu sáng và sự thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của ánh sáng trong môi trường làm việc. Cần có sự thay đổi trong nhận thức và hành động từ ban lãnh đạo.

III. Phương Pháp Cải Thiện Hệ Thống Ánh Sáng Nhân Tạo Tại Công Ty

Để cải thiện hệ thống ánh sáng, công ty cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Việc sử dụng đèn LED và thiết kế lại bố trí ánh sáng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho công nhân và sản xuất.

3.1. Lựa Chọn Đèn LED Là Giải Pháp Tối Ưu

Đèn LED không chỉ tiết kiệm năng lượng mà còn cung cấp ánh sáng đồng đều, giúp giảm mệt mỏi cho công nhân. Việc chuyển đổi sang đèn LED sẽ là một bước tiến lớn trong cải thiện điều kiện làm việc.

3.2. Thiết Kế Bố Trí Ánh Sáng Hợp Lý

Bố trí đèn hợp lý sẽ giúp tối ưu hóa ánh sáng trong không gian làm việc. Cần xác định vị trí và số lượng đèn cần thiết để đảm bảo đủ ánh sáng cho mọi khu vực.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hệ Thống Ánh Sáng Cải Thiện

Việc cải thiện hệ thống ánh sáng không chỉ mang lại lợi ích cho công nhân mà còn cho toàn bộ công ty. Năng suất lao động tăng lên, đồng thời giảm thiểu tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

4.1. Tăng Cường Năng Suất Lao Động

Hệ thống ánh sáng tốt giúp công nhân làm việc hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng suất lao động. Nghiên cứu cho thấy, ánh sáng đủ và hợp lý có thể tăng năng suất lên đến 20%.

4.2. Giảm Thiểu Tai Nạn Lao Động

Ánh sáng tốt giúp công nhân dễ dàng nhận diện các nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình làm việc, từ đó giảm thiểu tai nạn lao động. Điều này không chỉ bảo vệ sức khỏe công nhân mà còn giảm chi phí cho công ty.

V. Kết Luận Tương Lai Của Hệ Thống Ánh Sáng Tại Công Ty May Vĩnh Phú

Cải thiện hệ thống ánh sáng nhân tạo tại công ty may Vĩnh Phú là một bước đi cần thiết để nâng cao chất lượng sản xuất và bảo vệ sức khỏe công nhân. Tương lai của công ty sẽ sáng hơn nếu có những đầu tư đúng đắn vào hệ thống ánh sáng.

5.1. Đầu Tư Vào Công Nghệ Chiếu Sáng Mới

Công ty cần xem xét đầu tư vào các công nghệ chiếu sáng mới để đảm bảo hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Việc này không chỉ cải thiện điều kiện làm việc mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

5.2. Tạo Ra Môi Trường Làm Việc An Toàn Và Hiệu Quả

Một hệ thống ánh sáng tốt sẽ tạo ra môi trường làm việc an toàn và hiệu quả cho công nhân. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn bảo vệ sức khỏe và tinh thần làm việc của công nhân.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà Nước ta: phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN mà trong đó công tác BHLĐ được coi là một nhiệm vụ kinh tế xã hội quan trọng đặc biệt cho sự phát triển bền vững. Nhờ đó, mức tăng trưởng GDP trung bình hằng năm tăng hơn 7%, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng ổn định nhất trên thế giới. Với cơ chế mở, số ngành nghề ngày càng tăng trong đó nổi lên một số ngành nghề đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà Nước nhờ có giá trị xuất khẩu cao như: dệt may, dầu thô, than đá, chế biến thực phẩm,…Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với công nghiệp hoá, hiện đại hóa Đất Nước đã mang lại những thử thách mới đối với vấn đề an toàn và sức khoẻ cho người lao động. Hiện nay có rất nhiều công ty và doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh với trình độ công nghệ kỹ thuật còn thấp, tổ chức sản xuất lỏng lẻo, nảy sinh mâu thẫu giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an toàn, sức khoẻ của NLĐ.

Việc sử dụng rộng rãi công nghệ kỹ thuật mới đã tác hại nhiều đến ĐKLV, an toàn sức khoẻ NLĐ, chính vì vậy tình hình TNLĐ và BNN không ngừng gia tăng. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động- Thương Binh- Xã Hội từ năm 2000-2004 trung bình hằng năm xảy ra khoảng 4245 vụ TNLĐ nặng, trong đó có 468 vụ TNLĐ chết người mắc BNN do nguyên nhân lao động trong môi trường làm việc không an toàn. Nền kinh tế nước ta với nhiều ngành sản xuất đa dạng như: dệt may, thủy sản, dầu khí,…ngày càng được đầu tư cải, thiện nhằm đạt mục tiêu do Nhà Nước đề ra “Đưa Nước nhà thành một quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá “. Muốn đạt yêu cầu này các doanh nghiệp không thể bỏ qua công tác BHLĐ- đây là một chính sách có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ nguồn lực con người.

Những năm gần đây công tác BHLĐ đã có những chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả trong việc bảo đảm quyền được làm việc trong môi trường an toàn- vệ sinh, không ngừng cải thiện ĐKLV, bảo đảm an toàn tính mạng và sức khoẻ NLĐ góp phần phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác và hội nhập quốc tế. Sự phát triển này đòi hỏi công tác BHLĐ phải theo kịp với tình hình thực tế vì công tác này phục vụ trực tiếp cho sản xuất và không thể tách rời sản xuất; bảo vệ tốt sức lao động của ngành là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất phát triển. Điều đó cho thấy BHLĐ là một môn khoa học tổng hợp, kết hợp nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Muốn làm tốt công tác BHLĐ không thể chỉ giải quyết từng mặt đơn độc mà phải nhìn một cách tổng quát, toàn diện.

Ngành Dệt May Việt Nam hiện nay có khoảng 700 doanh nghiệp lớn làm hàng xuất khẩu. Từ năm 2001-2004 toàn ngành đã thu dụng thêm khoảng nửa triệu lao động, đưa tổng số lao động lên khoảng 2 triệu người, là một trong những ngành có đóng góp tích cực nhất trong nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà Nước. Theo ước Trang 7 tính của tổng công ty Dệt May năm 2010 Việt nam sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu gấp 8- 10 lần. Trong Công Nghiệp Dệt May, ngành may là ngành thu hút nhiều lao đông thủ công, đặc biệt là công nhân nữ, đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp cho xã hội.

Nhiều người có cách hiểu thông thường và cho rằng ngành may hoàn toàn thuộc loại lao động nhẹ nhàng trong tất cả các loại công việc; đấy chính là quan niệm sai lệch, là nhận thức chưa thật sự đầy đủ và có cái nhìn chung chung cho ngành may. Trên thực tế người công nhân lao động ở đâu hay ở vị trí nào cũng có những mối nguy hiểm về điện, hoả hoạn, tai nạn đi đường, ngộ độc thực phẩm trong ăn uống,…trong thời gian họ làm việc. Bên cạnh đó người ta chưa thấy được thực chất thao tác chi tiết của ngành may, tính chất lao động đơn điệu, những căng thẳng nhất định về tâm sinh lý, thần kinh trung ương trong tư thế làm việc bắt buộc và liên tục. Trong ngành may thì thành phần nữ công nhân chiếm hơn 80% và được tập trung với mật độ lớn trong các phân xưởng may…Sự ảnh hưởng của điều kiện môi trường như không khí, ánh sáng, kích thước bàn ghế,… không phù hợp với tiêu chuẩn vệ sinh lao động cùng với lao động gò bó, căng thẳng cần phải điều khiển bàn tay khéo léo kết hợp với sự gắng sức liên tục để giữ cho đường kim mũi chỉ luôn chính xác đã tác động đến sức lực và tâm trí của người lao động, hình thành các bệnh đặc trưng: suy nhược, đau cơ khớp, tai mũi họng, đường hô hấp, mắt, ngoài da, phụ khoa,… nhiều không thua các ngành độc hại, nguy hiểm khác.

Với những đặc điểm trên, yếu tố có hại đáng quan tâm của ngành may là việc chiếu sáng do ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng tới năng suất và chất lượng sản phẩm, các phân xưởng may phải đảm bào đủ ánh sáng theo yêu cầu về số lượng ánh sáng và chất lượng ánh sáng. Sự tiện nghi ánh sáng tạo cảm giác hưng phấn khi làm việc, nâng cao an toàn lao động, giảm các bệnh về mắt. Vì vậy, công tác BHLĐ trong ngành cần được quan tâm nhiều hơn và nên có những giải pháp mang tính đồng bộ nhằm cải thiện ĐKLV, đảm bảo AT_VSLĐ, giảm thiểu và phòng tránh bệnh nghề nghiệp cho NLĐ. Những yếu tố còn hạn chế của ngành trong công tác BHLĐ vừa nêu trên nếu không giải quyết hoặc không có giải pháp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động, tính mạng của NLĐ-đây là vốn quý nhất không chỉ đối với công ty mà còn là vốn quý của xã hội. Để đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cho NLĐ cũng như lợi nhuận cho công ty, ta cần đánh giá một cách đúng đắn về thực trạng BHLĐ để phù hợp với tình hình thực tế. Từ đó xây dựng những giải pháp nhằm cải thiện ĐKLV cho NLĐ trong công ty nên em chọn đề tài: “Điều kiện làm việc tại công ty may Vĩnh Phú và biện pháp cải thiện hệ thống ánh sáng nhân tạo “. Do thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên luận văn chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ĐKLV và đề xuất phương án cải thiện ĐKLV cho công nhân mà cụ thể là cải thiện hệ thống ánh sáng nhân tạo.

Đây là vấn đề nảy sinh trong quá trình thực tập, do đó những ý kiến nội dung trong đề tài chỉ dừng lại ở mức ý tưởng và đề xuất một số Trang 8 hướng cải thiện. Hy vọng đề tài sẽ góp được phần nào trong việc giảm thiểu TNLĐ, đảm bảo AT-VSLĐ và phòng tránh BNN cho công nhân trong ngành may.1 VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC BHLĐ TRONG NGÀNH MAY Người lao động bao gồm lao động chân tay và lao động trí óc chiếm gần phân nữa dân số nước ta. Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất Nước nhằm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, ngành dệt may là một trong những ngành có vị trí rất quan trọng. Ngành dệt may là ngành có tỉ suất lợi nhuận tương đối cao, đem lại tích luỹ và khoảng nộp ngân sách tương đối lớn.

Hàng dệt may đáp ứng một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, là trang phục làm đẹp cho mọi người. Dân số nước ta đến hết năm 1999 là 76 triệu người và dự báo đến năm 2010 là 90 triệu người; rõ ràng đây là thị trường tiêu thụ hàng dệt may rất lớn. Theo dự báo của Bộ Công Nghiệp đến năm 2010 lượng tiêu thụ vải sẽ là 1400 triệu mét, quần áo may sẵn lên đến 1200 triệu chiếc. Lao động ngành may được coi là lao động nhẹ, nhẹ nhàng hơn cả hơn cả khu vực kéo sợi dệt vải, sản xuất giày,… điều kiện làm việc, môi trường làm việc kể cả vấn đề an toàn lao động cũng được hiểu là không có gì đáng quan tâm đặc biệt.

Không chỉ riêng các cấp lãnh đạo, quản lý tổ chức ở các nhà máy xí nghiệp công ty may mà ngay cả người công nhân lao động cũng tập trung hết mình chạy theo năng suất, theo lợi nhuận, theo mặt hàng để tăng thu nhập. Người ta chưa thấy sâu sắc những yếu tố nguy hiểm thực tế có thể xảy ra tai nạn bất kỳ như cháy, ngộ độc, tai nạn trên đường đi làm và về, tai nạn trong khi làm việc,…và đặc biệt là tính chất lao động căng thẳng, đơn điệu, ngồi gò bó liên tục để giữ cho đường kim mũi chỉ, đường cắt luôn chính xác và đẹp. Đồng thời môi trường không khí, ánh sáng, bố trí nơi làm việc chưa đạt vệ sinh lao động cho nên sẽ phát sinh mệt mỏi, hình thành các bệnh đặc trưng như: suy nhược, đau cơ khớp, tai mũi họng, đường hô hấp, mắt, ngoài da, phụ khoa,…nhiều không thua các ngành có độc hại nguy hiểm khác. Ngành công nghiệp may đã hình thành và phát triển từ rất lâu.

Sở dĩ vấn đề an toàn, sức khoẻ NLĐ của ngành chưa có sự chăm lo đúng mức mà vẫn còn để tồn tại một số nguy cơ tai nạn lao động, sức khoẻ giảm sút tỉ lệ với thâm niên làm việc và nhất là một số bệnh đặc trưng mãn tính chiếm tỷ lệ cao chính là do các giám đốc, chủ công ty, chủ cơ sở chưa có trong mình một đánh giá toàn diện về tổ chức, quản lý, điều hành các phòng ban và nhất là chưa nhận thấy rõ tác động cùng một lúc của các yếu tố có hại như vi khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, bụi,… cùng với lao động gò bó, đơn điệu. Hầu hết các người chủ sử dụng lao động trong ngành may còn xem nhẹ công tác BHLĐ vì lẽ đơn giản là lo lắng chung trước hết là sản xuất ra tiêu thụ, lời lỗ ra sao, còn công tác BHLĐ chỉ quan tâm tới sợ xảy ra tai nạn lao động, các sự cố máy móc, thiết bị môi trường ( cháy, sập, nổ )…chứ người sử dụng lao động và những người quản lý, điều hành, thực hiện công tác BHLĐ chưa thật sự quan tâm đúng mức tới vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ người công nhân lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ