LỜI MỞ ĐẦU Thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà Nước ta: phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN mà trong đó công tác BHLĐ được coi là một nhiệm vụ kinh tế xã hội quan trọng đặc biệt cho sự phát triển bền vững. Nhờ đó, mức tăng trưởng GDP trung bình hằng năm tăng hơn 7%, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng ổn định nhất trên thế giới. Với cơ chế mở, số ngành nghề ngày càng tăng trong đó nổi lên một số ngành nghề đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà Nước nhờ có giá trị xuất khẩu cao như: dệt may, dầu thô, than đá, chế biến thực phẩm,…Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với công nghiệp hoá, hiện đại hóa Đất Nước đã mang lại những thử thách mới đối với vấn đề an toàn và sức khoẻ cho người lao động. Hiện nay có rất nhiều công ty và doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh với trình độ công nghệ kỹ thuật còn thấp, tổ chức sản xuất lỏng lẻo, nảy sinh mâu thẫu giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an toàn, sức khoẻ của NLĐ.
Việc sử dụng rộng rãi công nghệ kỹ thuật mới đã tác hại nhiều đến ĐKLV, an toàn sức khoẻ NLĐ, chính vì vậy tình hình TNLĐ và BNN không ngừng gia tăng. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động- Thương Binh- Xã Hội từ năm 2000-2004 trung bình hằng năm xảy ra khoảng 4245 vụ TNLĐ nặng, trong đó có 468 vụ TNLĐ chết người mắc BNN do nguyên nhân lao động trong môi trường làm việc không an toàn. Nền kinh tế nước ta với nhiều ngành sản xuất đa dạng như: dệt may, thủy sản, dầu khí,…ngày càng được đầu tư cải, thiện nhằm đạt mục tiêu do Nhà Nước đề ra “Đưa Nước nhà thành một quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá “. Muốn đạt yêu cầu này các doanh nghiệp không thể bỏ qua công tác BHLĐ- đây là một chính sách có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ nguồn lực con người.
Những năm gần đây công tác BHLĐ đã có những chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả trong việc bảo đảm quyền được làm việc trong môi trường an toàn- vệ sinh, không ngừng cải thiện ĐKLV, bảo đảm an toàn tính mạng và sức khoẻ NLĐ góp phần phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác và hội nhập quốc tế. Sự phát triển này đòi hỏi công tác BHLĐ phải theo kịp với tình hình thực tế vì công tác này phục vụ trực tiếp cho sản xuất và không thể tách rời sản xuất; bảo vệ tốt sức lao động của ngành là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất phát triển. Điều đó cho thấy BHLĐ là một môn khoa học tổng hợp, kết hợp nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Muốn làm tốt công tác BHLĐ không thể chỉ giải quyết từng mặt đơn độc mà phải nhìn một cách tổng quát, toàn diện.
Ngành Dệt May Việt Nam hiện nay có khoảng 700 doanh nghiệp lớn làm hàng xuất khẩu. Từ năm 2001-2004 toàn ngành đã thu dụng thêm khoảng nửa triệu lao động, đưa tổng số lao động lên khoảng 2 triệu người, là một trong những ngành có đóng góp tích cực nhất trong nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà Nước. Theo ước Trang 7 tính của tổng công ty Dệt May năm 2010 Việt nam sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu gấp 8- 10 lần. Trong Công Nghiệp Dệt May, ngành may là ngành thu hút nhiều lao đông thủ công, đặc biệt là công nhân nữ, đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp cho xã hội.
Nhiều người có cách hiểu thông thường và cho rằng ngành may hoàn toàn thuộc loại lao động nhẹ nhàng trong tất cả các loại công việc; đấy chính là quan niệm sai lệch, là nhận thức chưa thật sự đầy đủ và có cái nhìn chung chung cho ngành may. Trên thực tế người công nhân lao động ở đâu hay ở vị trí nào cũng có những mối nguy hiểm về điện, hoả hoạn, tai nạn đi đường, ngộ độc thực phẩm trong ăn uống,…trong thời gian họ làm việc. Bên cạnh đó người ta chưa thấy được thực chất thao tác chi tiết của ngành may, tính chất lao động đơn điệu, những căng thẳng nhất định về tâm sinh lý, thần kinh trung ương trong tư thế làm việc bắt buộc và liên tục. Trong ngành may thì thành phần nữ công nhân chiếm hơn 80% và được tập trung với mật độ lớn trong các phân xưởng may…Sự ảnh hưởng của điều kiện môi trường như không khí, ánh sáng, kích thước bàn ghế,… không phù hợp với tiêu chuẩn vệ sinh lao động cùng với lao động gò bó, căng thẳng cần phải điều khiển bàn tay khéo léo kết hợp với sự gắng sức liên tục để giữ cho đường kim mũi chỉ luôn chính xác đã tác động đến sức lực và tâm trí của người lao động, hình thành các bệnh đặc trưng: suy nhược, đau cơ khớp, tai mũi họng, đường hô hấp, mắt, ngoài da, phụ khoa,… nhiều không thua các ngành độc hại, nguy hiểm khác.
Với những đặc điểm trên, yếu tố có hại đáng quan tâm của ngành may là việc chiếu sáng do ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng tới năng suất và chất lượng sản phẩm, các phân xưởng may phải đảm bào đủ ánh sáng theo yêu cầu về số lượng ánh sáng và chất lượng ánh sáng. Sự tiện nghi ánh sáng tạo cảm giác hưng phấn khi làm việc, nâng cao an toàn lao động, giảm các bệnh về mắt. Vì vậy, công tác BHLĐ trong ngành cần được quan tâm nhiều hơn và nên có những giải pháp mang tính đồng bộ nhằm cải thiện ĐKLV, đảm bảo AT_VSLĐ, giảm thiểu và phòng tránh bệnh nghề nghiệp cho NLĐ. Những yếu tố còn hạn chế của ngành trong công tác BHLĐ vừa nêu trên nếu không giải quyết hoặc không có giải pháp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động, tính mạng của NLĐ-đây là vốn quý nhất không chỉ đối với công ty mà còn là vốn quý của xã hội. Để đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cho NLĐ cũng như lợi nhuận cho công ty, ta cần đánh giá một cách đúng đắn về thực trạng BHLĐ để phù hợp với tình hình thực tế. Từ đó xây dựng những giải pháp nhằm cải thiện ĐKLV cho NLĐ trong công ty nên em chọn đề tài: “Điều kiện làm việc tại công ty may Vĩnh Phú và biện pháp cải thiện hệ thống ánh sáng nhân tạo “. Do thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên luận văn chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ĐKLV và đề xuất phương án cải thiện ĐKLV cho công nhân mà cụ thể là cải thiện hệ thống ánh sáng nhân tạo.
Đây là vấn đề nảy sinh trong quá trình thực tập, do đó những ý kiến nội dung trong đề tài chỉ dừng lại ở mức ý tưởng và đề xuất một số Trang 8 hướng cải thiện. Hy vọng đề tài sẽ góp được phần nào trong việc giảm thiểu TNLĐ, đảm bảo AT-VSLĐ và phòng tránh BNN cho công nhân trong ngành may.1 VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC BHLĐ TRONG NGÀNH MAY Người lao động bao gồm lao động chân tay và lao động trí óc chiếm gần phân nữa dân số nước ta. Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất Nước nhằm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, ngành dệt may là một trong những ngành có vị trí rất quan trọng. Ngành dệt may là ngành có tỉ suất lợi nhuận tương đối cao, đem lại tích luỹ và khoảng nộp ngân sách tương đối lớn.
Hàng dệt may đáp ứng một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, là trang phục làm đẹp cho mọi người. Dân số nước ta đến hết năm 1999 là 76 triệu người và dự báo đến năm 2010 là 90 triệu người; rõ ràng đây là thị trường tiêu thụ hàng dệt may rất lớn. Theo dự báo của Bộ Công Nghiệp đến năm 2010 lượng tiêu thụ vải sẽ là 1400 triệu mét, quần áo may sẵn lên đến 1200 triệu chiếc. Lao động ngành may được coi là lao động nhẹ, nhẹ nhàng hơn cả hơn cả khu vực kéo sợi dệt vải, sản xuất giày,… điều kiện làm việc, môi trường làm việc kể cả vấn đề an toàn lao động cũng được hiểu là không có gì đáng quan tâm đặc biệt.
Không chỉ riêng các cấp lãnh đạo, quản lý tổ chức ở các nhà máy xí nghiệp công ty may mà ngay cả người công nhân lao động cũng tập trung hết mình chạy theo năng suất, theo lợi nhuận, theo mặt hàng để tăng thu nhập. Người ta chưa thấy sâu sắc những yếu tố nguy hiểm thực tế có thể xảy ra tai nạn bất kỳ như cháy, ngộ độc, tai nạn trên đường đi làm và về, tai nạn trong khi làm việc,…và đặc biệt là tính chất lao động căng thẳng, đơn điệu, ngồi gò bó liên tục để giữ cho đường kim mũi chỉ, đường cắt luôn chính xác và đẹp. Đồng thời môi trường không khí, ánh sáng, bố trí nơi làm việc chưa đạt vệ sinh lao động cho nên sẽ phát sinh mệt mỏi, hình thành các bệnh đặc trưng như: suy nhược, đau cơ khớp, tai mũi họng, đường hô hấp, mắt, ngoài da, phụ khoa,…nhiều không thua các ngành có độc hại nguy hiểm khác. Ngành công nghiệp may đã hình thành và phát triển từ rất lâu.
Sở dĩ vấn đề an toàn, sức khoẻ NLĐ của ngành chưa có sự chăm lo đúng mức mà vẫn còn để tồn tại một số nguy cơ tai nạn lao động, sức khoẻ giảm sút tỉ lệ với thâm niên làm việc và nhất là một số bệnh đặc trưng mãn tính chiếm tỷ lệ cao chính là do các giám đốc, chủ công ty, chủ cơ sở chưa có trong mình một đánh giá toàn diện về tổ chức, quản lý, điều hành các phòng ban và nhất là chưa nhận thấy rõ tác động cùng một lúc của các yếu tố có hại như vi khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, bụi,… cùng với lao động gò bó, đơn điệu. Hầu hết các người chủ sử dụng lao động trong ngành may còn xem nhẹ công tác BHLĐ vì lẽ đơn giản là lo lắng chung trước hết là sản xuất ra tiêu thụ, lời lỗ ra sao, còn công tác BHLĐ chỉ quan tâm tới sợ xảy ra tai nạn lao động, các sự cố máy móc, thiết bị môi trường ( cháy, sập, nổ )…chứ người sử dụng lao động và những người quản lý, điều hành, thực hiện công tác BHLĐ chưa thật sự quan tâm đúng mức tới vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ người công nhân lao động.