CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Tổng quan về động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức 1. Các khái niệm cơ bản Con người là sự tổng hòa của một hệ thống các cấu tạo phức tạp về tâm sinh lý. Nhân tố con người đã từ lâu được coi là nguồn lực quý giá nhất của mọi tổ chức.
Con người là yếu tố trung gian của mọi hoạt động, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công hay thất bại của tổ chức. Con người tham gia lao động là muốn được thỏa mãn những đòi hỏi, những ước vọng mà mình chưa có hoặc chưa đầy đủ. Theo Mác mục đích của nền sản xuất là nhằm thỏa mãn ngày càng đầy đủ hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng của bản thân người lao động. Lê-nin: Đảm bảo đời sống đầy đủ và phát triển tự do toàn diện cho các thành viên trong xã hội nhất là người lao động thì không chỉ là thoả mãn nhu cầu mà nó còn đảm bảo hạnh phúc, tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện, đảm bảo bình đẳng xã hội gắn liền hạnh phúc với tự do.
Mặt khác, một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình quản lý, các nhà quản lý phải luôn chú trọng đến nguồn nhân lực của tổ chức mình và phải nắm được nguyên tắc cơ bản đó là “Quản lý suy cho cùng là quản lý con người” Do đó, để tận dụng được tối đa các kỹ năng, kỹ xảo và sự sáng tạo của người lao động thì các nhà quản lý phải biết tạo động lực làm việc cho người lao động của mình để có thể đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức, hoàn thành tốt các kế hoạch đã đề ra. Với nhiều công việc như nhau cùng với điều kiện làm việc. Động cơ làm việc là gì? Động cơ làm việc của người lao động xuất phát từ mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, được tôn trọng [1].
Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy suy nghĩ và hành động của người lao động. Nó được biểu hiện qua thái độ chủ quan của người lao động với hành động của mình.
4 Đặc trưng của động cơ làm việc: Động cơ rất trừu tượng và khó xác định: Động cơ thường được che dấu bởi bản chất thật và các yếu tố như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, ……. Động cơ luôn biến đối, biến đổi theo môi trường sống và theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Ví dụ khi kinh tế kém phát triển, thu nhập thấp thì động cơ làm việc chủ yếu của người lao động là để thỏa mãn nhu cầu vật chất thấp: ăn, mặc, ở, đi lại… có nghĩa là mỗi quan tâm của con người là vật chất. Khi kinh tế phát triển với thu nhập cao mà nhu cầu thiết yếu không còn là vấn đề chính thì nhu cầu của người lao động lại tập trung vào các vấn đề như tự khẳng định mình, được tôn trọng, được phát triển nhu cầu tinh thần.
Động lực làm việc (ĐLLV) là gì? Có câu nói: "Thành công một phần có được là ở sự cần cù và lòng nhiệt tình" - (Trích ngạn ngữ nước ngoài). Mà lòng nhiệt tình được tạo ra từ động lực lao động, nó làm cho người ta hăng say làm việc, phát huy hết khả năng làm việc của bản thân để dồn vào công việc, tạo nên năng suất lao động cao. - Động lực là sự khát khao và tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích của tổ chức. - Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
- Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc. Động lực là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mau thuẫn nhau có thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn để sao cho chúng được ưu tiên hơn các nhu cầu khác. ĐLLV không xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, cũng như biểu hiện qua lời nói mà qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ tâm của người lao động. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong mỗi con người, trong môi trường sống và môi trường làm việc của con người.
Vì vậy, hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như văn hóa tổ chức, phương thức lãnh đạo, cơ cấu tổ chức, các chính sách về nhân lực…. Khi bàn về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản lý nhân 5 sự đưa ra một số quan điểm sau: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào - Động lực không phải là đặc điểm về tính cách các nhân. Có nghĩa là không có người lao động có động lực và người không có động lực. - Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ mất khả năng thực hiện công việc và xu hướng ra khỏi tổ chức. - Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn tới năng suất và hiệu quả công việc vì sự thực hiện công việc không chỉ phục thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Tạo động lực là gì? Tạo động lực là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức [2] Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay lợi ích tạo ra động lực trong lao động.
Lợi ích càng lớn thì động lực càng cao.Trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của người lao động trong công việc. Mục đích của tạo động lực: - Tạo động lực cho người lao động là làm cho nhu cầu của người lao động được thoản mãn, khiến họ gắn bó và trung thành với tổ chức. Sự gắn bó của họ cùng với những biện pháp tạo động lực tốt sẽ làm tăng khả năng giữ và thu hút người giỏi đến với tổ chức, do vậy sẽ làm tăng uy tín cũng như khả năng cạnh tranh của tổ chức trên thị trường.
Như vậy, tạo động lực lao động sẽ làm cho người lao động gắn bó với tổ chức hơn và thu hút được người lao động giỏi đến với doanh nghiệp. - Khi người lao động có động lực lao động thì họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng say, sử dụng hết khả năng của mình, do đó mà mục tiêu của tổ chức sẽ thu được kết quả cao. Qua đó, người lao động có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao 6 những khả năng hiện có. Như vậy, tạo động lực làm việc là để khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy được tiềm năng của người lao động trong tổ chức.
Vai trò của tạo động lực trong làm việc 1. Vai trò của tạo động lực đối với bản thân người lao động Tạo động lực góp phần thỏa mãn nhu cầu tinh thần và nhu cầu vật chất của người lao động. Khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ đạt được hiệu quả cao trong công việc, làm cho không chỉ năng suất lao động của cá nhân nâng cao mà tổ chức cũng dần đạt được mục tiêu [2]. Khả năng tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ được phát huy tối đa.
Khi mà nhu cầu về vật chất của người lao động được quan tâm sẽ khuyến khích họ tích cực tham gia các khóa học để nâng cao trình độ, khích thích tính sáng tạo, tăng sự gắn bó của người lao động với công việc. Nhu cầu về tinh thần được quan tâm sẽ giúp tinh thần làm việc thỏa mãi, giảm thiểu bệnh nghề nghiệp, người lao động có điều kiện quan tâm tới sức khỏe. Vai trò của tạo động lực đối với tổ chức Tổ chức có các chính sách tạo động lực hiệu quả cho người lao động sẽ có tác động lớn tới hành vi của người lao động, và nó cũng ảnh hưởng lớn tới sự thành công của một tổ chức. Vì vậy, nhà quản lý muốn đạt đươc mục tiêu của mình phải nhanh nhạy, linh hoạt, coi trọng việc đưa ra các chính sách thích đáng đối với người lao động.
Tổ chức có chính sách tạo động lực tốt sẽ tạo nhiều thuận lợi cho tổ chức trong việc: - Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, khai thác tối đa khả năng của người lao động. - Tổ chức sẽ thu hút được những người lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn cao và giữ được những người tài giỏi trong tổ chức. - Năng suất lao động của tổ chức đạt kết quả tốt. Nâng cao vị thế của tổ chức trên thị trường.
Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động Các yếu tố tạo động lực lao động khá đa dạng và phong phú bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường bên trong, bên ngoài tổ chức và yếu tố thuộc về bản thân người lao động. Yếu tố thuộc về bản thân người lao động a) Lợi ích của con người Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, mà 7 nhu cầu là yếu tố quan trọng nhất của tạo động lực.