Chương 1: Tổng quan về cân bằng tài chính Chương 2: Thực trạng cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 3: Các giải pháp cải thiện tình hình cân bằng tài chính hiệu quả Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 LÝ LUẬN VỀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm Cân bằng tài chính (financial equilibrium) là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của những tài sản xác định các luồng chi ra trong tương lai. Nói cách khác, cân bằng tài chính được định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hoà giữa thời gian biến đổi tài sản thành tiền và nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn. Vì vậy các số liệu về ngân quỹ và sự thay đổi ngân quỹ không thể chỉ báo chính xác các điều kiện cân bằng tài chính. Hình 1: Tình hình mất cân bằng tài chính Tài sản lưu động không thường xuyên Nguồn tài trợ ngắn hạn Tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên Nguồn tài trợ dài hạn Thời gian Như vậy khái niệm mất cân bằng tài chính sẽ được hiểu ngược lại với khái niệm cân bằng tài chính.
Mất cân bằng tài chính là sự không đảm bảo tài trợ dài hạn cho những tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên. Cân bằng tài chính có thể được xác định từ các luồng tài chính. Mọi luồng tài chính đều làm tăng hay giảm số tiền trong quỹ. Cân bằng tài chính đạt được tại thời TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 điểm tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản như tiền mặt vẫn “dương” sau khi đã bù trả cho tất cả các khoản nợ đến hạn.
Ba luồng tài chính chủ yếu quyết định cân bằng tài chính bao gồm: - Chi phí đầu tư, chủ yếu là chi phí tạo vốn cho sản xuất, - Số dư từ các hoạt động tài chính (vay, cho vay, hoàn trả), - Thặng dư từ sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, phải tính thêm: - Biến đổi tài sản có (tồn kho và các khoản phải thu) và các khoản phải trả, - Chi phí phân bổ giá trị thặng dư cho nhà nước, cho người lao động và cho các cổ đông. - Các khoản nợ ngắn hạn, chủ yếu là tín dụng ngân hàng khi giá trị quỹ không đủ để duy trì cân bằng, tức là đảm bảo khả năng thanh toán các khoản chi bắt buộc.2 Phân loại cân bằng tài chính 1.1 Cân bằng tài chính truyền thống Xét về tổng thể, việc nắm giữ các tài sản dài hạn có tính thanh khoản thấp đòi hỏi nắm giữ các nguồn vốn lâu dài. Chính từ nhận định này mà nguyên tắc truyền thống của cân bằng tài chính là các tài sản cố định phải được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn).
Theo nguyên tắc này, cân bằng tài chính được duy trì bằng sự bù đắp của các luồng tiền (tương ứng với khấu hao tài sản cố định) với các khoản nợ (vốn và lãi) hàng năm. Tính ổn định của tài sản cũng như nguồn vốn không những đảm bảo sự cân bằng nhất thời mà còn duy trì được sự cân bằng về dài hạn. Phần trội của tổng nguồn vốn dài hạn so với tổng tài sản cố định được gọi là vốn luân chuyển, tạo thành một biên độ an toàn cho cân bằng tài chính. Trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nghiên cứu đề tài để tiện cho phân tích số liệu ta gọi cân bằng truyền thống bằng cân bằng tài chính loại 1.
Vốn luân chuyển, từ đó, được coi là một chỉ báo về khả năng thanh toán tại một thời điểm cũng như khả năng thanh toán trong tương lai. Vốn luân chuyển cũng là cầu nối giữa cân bằng tài chính dài hạn và ngắn hạn vì vậy việc tính toán xác định vốn luân chuyển cũng tuỳ thuộc vào quan điểm của từng doanh nghiệp. Có 2 cách xác định vốn luân chuyển: Cách 1: Vốn luân chuyển = Vốn dài hạn – Tài sản cố định và đầu tư dài hạn Cách này nhấn mạnh về nguồn gốc của vốn luân chuyển và về những biến số quyết định đối với nó. Đó là sự phân tích bên ngoài về vốn luân chuyển.
Tổng số vốn luân chuyển được trình bầy bằng cách đối xứng như bảng dưới đây: Bảng 1: Vốn luân chuyển tính theo phương pháp 11 Tài sản cố Vốn chủ sở định và đầu hữu tư dài hạn Nợ dài hạn Vốn luân chuyển Nguồn: Josette Peyrard, phân tích tài chính doanh nghiệp (2005) 1 Josette Peyrard, phân tích tài chính doanh nghiệp (2005) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Cách 2: Vốn luân chuyển = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn Bảng 2: Vốn luân chuyển tính theo cách 2 Tài sản ngắn Vốn luân hạn chuyển Nợ ngắn hạn Nguồn: Josette Peyrard, phân tích tài chính doanh nghiệp (2005) Phương pháp thứ 2 này thể hiện rất rõ cách thức sử dụng vốn luân chuyển. Nó nhấn mạnh về việc khéo sử dụng vốn luân chuyển là nguồn tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Chính vì thế mà ta gọi đó là phân tích nội bộ. Từ phương pháp tính toán này mà ta dự đoán được những nhu cầu về vốn luân chuyển.
Nếu tài sản ngắn hạn thấp hơn nợ ngắn hạn, vốn luân chuyển sẽ có giá trị âm. Tình hình này là đáng lo ngại cho một doanh nghiệp công nghiệp, nhưng thường gặp ở doanh nghiệp thương mại, nơi có tốc độ quay vòng hàng hoá tồn kho rất nhanh (dưới một tháng) cùng với mức mua chịu của nhà cung cấp tăng. Tuy nhiên, hai cách tính đều cho kết quả như nhau và doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính khi có vốn luân chuyển lớn hơn không.2 Cân bằng tài chính ngắn hạn Khả năng tài trợ (vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn) cho tài sản cố định và đầu tư dài hạn chưa đủ để đảm bảo cân bằng tài chính. Các tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động) khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng làm một phần nguồn vốn trở lên bất động nằm trong giá trị tồn kho và các khoản phải thu.
Chênh lệch của tổng các khoản này với tổng các khoản phải trả tạo thành nhu cầu về vốn luân chuyển, luôn thay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 đổi theo nhịp độ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có được cân bằng tài chính khi vốn luân chuyển đủ khả năng bù đắp cho nhu cầu này. Hay nói cách khác doanh nghiệp chỉ đạt được cân bằng tài chính trong ngắn hạn khi chênh lệch giữa vốn luân chuyển với nhu cầu vốn luân chuyển dương (phần chênh lệch đó ta gọi là ngân quỹ ròng). Ngân quỹ ròng = Vốn luân chuyển – Nhu cầu vốn luân chuyển Bảng 3: Xác định ngân quỹ ròng (cân bằng tài chính ngắn hạn) Vốn luân Ngân quỹ ròng chuyển Nhu cầu vốn luân chuyển Nhu cầu vốn luân chuyển = Hàng tồn kho + Nợ phải thu khách hàng – Nợ phải trả ngắn hạn (không kể vay ngắn hạn).
Như vậy ngân quỹ ròng dương đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính ngắn hạn và tạo thành biên độ an toàn cho cân bằng tài chính. Nếu Vốn luân chuyển âm liên tục qua các năm thì doanh nghiệp sẽ mất cân bằng tài chính, tình hình và khả năng thanh toán gặp khó khăn; Tuy nhiên, để có đánh giá đầy đủ hơn cần thông qua chỉ tiêu ngân quỹ ròng. Nếu ngân quỹ ròng âm, có nghĩa là doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn luân chuyển và tài trợ cho tài sản cố định; cân bằng tài chính kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp. Nếu ngân quỹ ròng dương thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn luân chuyển.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Các tình huống trong cân bằng tài chính Vốn luân chuyển thể hiện mức độ an toàn biên tế, đảm bảo cho doanh nghiệp chống lại các rủi ro làm mất giá trị tài sản Có, hoặc rủi ro làm giảm tốc độ luân chuyển vốn dự trữ (bán…). Vì vậy mọi biến động của nó phải được chú ý theo dõi. Chúng ta có thể lập bảng tập hợp những con số tổng hợp về vốn thường xuyên và tài sản cố định của 3 hoặc 5 năm quá khứ để theo dõi sự biến động này. Có ba tình huống có thể xẩy ra qua bảng tổng hợp: Tình huống 1: Tăng vốn luân chuyển Trong trường hợp này, an toàn của doanh nghiệp tăng vì phần lớn tài sản ngắn hạn được vốn thường xuyên (vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn) tài trợ.
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng để đạt được sự an toàn đó, doanh nghiệp phải tăng nợ dài hạn. Nếu khối lượng nợ dài hạn càng lớn sẽ dẫn tới chi phí tài chính càng cao, từ đó làm giảm kết quả kinh doanh. Nếu tăng vốn lưu động bằng việc tăng vốn chủ sở hữu thì tình hình tài chínhh doanh nghiệp được cải thiện, nhưng doanh nghiệp phải chịu chi phí sử dụng vốn cao hơn nợ vay và có thể phải chia xẻ quyền kiểm soát công ty. Mặt khác, nếu sử dụng vốn lưu động ròng tài trợ toàn bộ cho tồn kho không phải là quyết định quản trị tốt, vì có thể doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn dài hạn, tốn kém cho việc sử dụng ngắn hạn mà đáng lẽ việc sử dụng này phải do tín dụng ngắn hạn tài trợ (mà tín dụng ngắn hạn có chi phí thấp hơn).
Tình huống 2: Giảm vốn luân chuyển Khi một doanh nghiệp giảm vốn luân chuyển sẽ làm cho mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệp giảm xuống. Tuy vậy, nếu việc giảm vốn này nhằm tài trợ cho các khoản đầu tư sinh lợi mới, góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp thì cần chú ý xem xét kỹ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Tình huống 3: Giữ ổn định vốn lưu động Tình huống này thể hiện tình trạng giữ ổn định các hoạt động của doanh nghiệp, để điều chỉnh cơ cấu đầu tư do lợi nhuận không tăng hoặc mức tăng trưởng giảm lâu dài, khi cần đánh giá thực trạng của tình huống này cần tiến hành nghiên cứu nguồn có khả năng tạo ra lợi nhuận để xem xét. Hơn nữa, dù quy mô vốn luân chuyển như thế nào thì cũng cần xác định rõ các số liệu tổng hợp như dự trữ hàng tồn kho hoặc doanh thu của doanh nghiệp để biết những số liệu này có phù hợp hay không? Ta có thể so sánh các chỉ số này với các chỉ số của doanh nghiệp cùng ngành để hiểu rõ hơn.