CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ở nước ta. Một số nét khái quát về hoạt động công tố ở Việt Nam trước khi có tổ chức Viện công tố. Năm 1858, khi thực dân Pháp chính thức sang xâm lược nước ta, để thực hiện nền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam mà thực chất là chế độ thuộc địa, người Pháp đã không ngừng củng cố và tăng cường bộ máy cai trị, trong đó có hệ thống tư pháp ở Việt Nam và toàn cõi Đông Dương.
Thực hiện chính sách đô hộ, Pháp không xóa bỏ mà vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ (Triều Nguyễn) và biến nó thành công cụ đắc lực cho chúng – vương triều bù nhìn. Do vậy mà nước ta thời kỳ này, về mặt hình thức, tồn tại song song hai hệ thống chính quyền, hai hệ thống pháp luật, hai hệ thống tư pháp – một của chính quyền thực dân Pháp tại Việt Nam và một của triều đình phong kiến bản xứ Triều Nguyễn. Với mưu đồ chia để trị, thực dân Pháp đã chia nước ta thành ba Kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ), áp dụng ba quy chế chính trị khác nhau cho phù hợp với cách cai trị của mỗi vùng: Nam Kỳ và ba thành phố lớn gồm Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng là đất “thuộc địa”, do Pháp cai trị trực tiếp; Trung Kỳ (là nơi có Kinh đô Huế) trừ thành phố Đà Nẵng là đất “bảo hộ”; Bắc Kỳ (nơi còn chịu nhiều ảnh hưởng của phong kiến Triều Nguyễn) trừ Hà Nội và Hải Phòng, là đất “nửa thuộc địa, nửa bảo hộ” – thực chất đều là thuộc địa của Pháp. Về hình thức tổ chức chính quyền, quy chế pháp lý được áp dụng và hệ thống tư pháp ở ba Kỳ cũng khác nhau.
Hệ thống các cơ quan tư pháp và pháp luật áp dụng trong hoạt động xét xử có những điểm khác nhau như sau: - Đối với các vùng là đất “thuộc địa”, việc xét xử được Tòa án Pháp áp dụng pháp luật của Pháp. Khi đối tượng xét xử là người có quốc tịch Pháp, ngoại kiều được biệt đãi như người Pháp, thì khi xét xử áp dụng Bộ luật hình sự của Pháp; Với bị cáo là 8 người Việt (sống ở Nam Kỳ, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng) và những ngoại kiều không được hưởng chế độ biệt đãi như người Pháp, thì việc xét xử áp dụng Bộ luật tu chính Nam Kỳ (do Pháp ban hành năm 1902). - Đối với đất “bảo hộ”, việc xét xử được các Tòa án Nam Triều áp dụng pháp luật Nam Triều được ban bố và thi hành ở Trung Kỳ như Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự Trung Kỳ (ban hành năm 1935) áp dụng khi xét xử các vụ án hình sự. - Đối với đất “nửa thuộc địa, nửa bảo hộ”, khi xét xử Tòa án áp dụng pháp luật Nam Triều được ban bố và thi hành ở Bắc Kỳ như Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự Bắc Kỳ (ban hành năm 1921).
Hệ thống tư pháp nói chung và công tố nói riêng ở nước ta thời kỳ này được tổ chức rất đa dạng do mỗi Kỳ có hệ thống tư pháp riêng. Trong hệ thống tư pháp chưa có sự phân định rõ ràng giữa ba cơ quan và ba chức năng tố tụng: điều tra - công tố - xét xử. Thuật ngữ công tố, hoạt động công tố và chủ thể thực hiện chức năng công tố được quy định một cách cụ thể trong pháp luật và được tổ chức thực thi trên thực tế tại các Tòa án của người Pháp ở Việt Nam. Trong hệ thống tư pháp của chính quyền Pháp tại Việt Nam có sự phân định rành mạch giữa quan hành chính và quan tư pháp.
Tuy nhiên, trong hệ thống tư pháp của Nam triều, quan hành chính thường kiêm nhiệm quan Tòa án. Hệ thống Tòa án và tổ chức cơ quan công tố của Pháp ở Việt Nam. Hệ thống Tòa án và tổ chức cơ quan công tố của Pháp ở Việt Nam được thiết lập không chỉ ở những vùng đất thuộc địa mà còn được thiết lập ở vùng đất bảo hộ và nửa bảo hộ. Đối tượng xét xử là công dân Pháp, ngoại kiều được biệt đãi như người Pháp và người Việt Nam sinh ra ở vùng đất thuộc địa, kể cả những người Việt Nam sinh ra ở vùng đất thuộc địa nhưng hiện đang sống ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ.
Mô hình tổ chức cơ quan Tòa án và cơ quan công tố được áp dụng giống như ở nước Pháp. Về thẩm quyền xét xử và thẩm quyền công tố các cấp được quy định gồm: - Tòa hòa giải thường: là cấp thấp nhất trong hệ thống Tòa án, có thẩm quyền xét xử các tội vi cảnh, được chia thành hai loại: Tòa hòa giải thường do Thẩm phán người Pháp chủ tọa (chức năng công tố ở Tòa này do một viên Chánh cẩm đồng thời là Chánh mật thám, Chánh cảnh sát đảm nhiệm nhiệm vụ điều tra vụ án ngồi ghế công tố và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa) và Tòa hòa giải thường do Thẩm phán người 9 Việt chủ tọa (chức năng công tố do Thẩm phán người Việt đảm nhiệm bao gồm toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố, buộc tội, kết tội). - Tòa hòa giải rộng quyền: có 5 Tòa (gồm 3 Tòa đặt tại Nam Kỳ, 1 tại Trung Kỳ và 1 tại Bắc Kỳ) có thẩm quyền xét xử chung thẩm các tội vi cảnh và xử sơ thẩm các tội tiểu hình. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đảm nhiệm tất cả các hoạt động điều tra, truy tố, buộc tội, kết tội.
- Tòa sơ thẩm: được phân theo ba hạng (I, II, III) gắn với các địa giới hành chính, có thẩm quyền xét xử như nhau đó là xét xử chung thẩm các tội vi cảnh và xử sơ thẩm các tội tiểu hình. Về chức năng công tố do Biện lý phụ trách và các phó Biện lý phụ tá. Tại Tòa sơ thẩm có sự phân định rõ ràng giữa thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử, theo đó hoạt động điều tra do Dự thẩm phụ trách, hoạt động công tố do Biện lý phụ trách (có các phó Biện lý phụ tá) và hoạt động xét xử do Chánh án và các Thẩm phán phụ trách. - Tòa thượng thẩm: được tổ chức tại hai nơi: Hà Nội và Sài Gòn, có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của Tòa hòa giải rộng quyền hoặc Tòa sơ thẩm bị kháng cáo.
Bản án của Tòa thượng thẩm là bản án chung thẩm. Chức năng công tố được giao cho Viện công tố (còn gọi là Viện chưởng lý) có quyền truy tố bị cáo ra Tòa và thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa. Đứng đầu Viện công tố có Chưởng lý. Dưới Chưởng lý có phó Chưởng lý, Tham lý và các phó Tham lý phụ tá.
Thẩm quyền tố tụng tại Tòa được phân định rõ ràng: hoạt động điều tra do cơ quan thẩm cứu phụ trách, hoạt động công tố do Viện công tố phụ trách (việc truy tố kẻ phạm tội ra Tòa được thực hiện bởi Công tố viên hay Thẩm phán công tố) và hoạt động xét xử do Chánh án, Thẩm phán xét xử và các Hội thẩm phụ trách. - Tòa đại hình: chỉ được thiết lập khi có những vụ án hình sự về những tội đại hình và xét xử tại trụ sở của Tòa thượng thẩm. Bản án của Tòa đại hình là bản án chung thẩm, bị cáo không có quyền kháng cáo. Hội đồng xét xử gồm các Thẩm phán của Tòa thượng thẩm và các phụ thẩm.
Các phụ thẩm chỉ có quyền tham gia định tội, không có quyền quyết định vấn đề bồi thường dân sự. Hệ thống Tòa án và công tố của Nam Triều. Hệ thống Tòa án Nam Triều (Triều Nguyễn) chỉ tồn tại ở xứ bảo hộ và nửa bảo hộ là Trung Kỳ và Bắc Kỳ, có thẩm quyền xét xử đối với những vụ án có người Việt sinh ra ở hai nơi này (trừ ba thành phố thuộc địa là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng) và 10 những ngoại kiều không được biệt đãi như người Pháp. Nguồn luật áp dụng trong hoạt động xét xử là luật của Triều Nguyễn.
Trong hệ thống tư pháp không có sự phân biệt giữa ngạch quan hành chính và ngạch quan tư pháp. Quan cai trị các cấp đồng thời kiêm luôn Chánh án. Vào năm 1929, ở Bắc Kỳ có đặt ra một ngạch quan tư pháp nhưng trên thực tế, các quan tư pháp này về cơ bản vẫn phụ thuộc vào bộ máy hành chính, không có đủ quyền độc lập xét xử như Thẩm phán của Tòa án Pháp. Hệ thống tư pháp của của Nam Triều không phân thành ba loại cơ quan: thẩm cứu (điều tra), công tố và xét xử như hệ thống tư pháp của người Pháp.
Hệ thống tư pháp của các Tòa án Nam triều được hiểu duy nhất là Tòa án, Chánh án đảm trách tất cả các khâu của quá trình tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố, buộc tội, kết tội. Về tổ chức và thẩm quyền của các Tòa án Nam Triều có những điểm khác nhau rõ rệt, cụ thể như sau: - Hệ thống Tòa án của Nam Triều tại Bắc Kỳ: được quy định tại Bộ luật Bắc Kỳ pháp viện biên chế (ban hành năm 1921). Luật áp dụng trong hoạt động xét xử là Bộ luật hình sự Bắc Kỳ và Bộ luật tố tụng hình sự Bắc Kỳ (ban hành năm 1921). Hệ thống Tòa án các cấp gồm có: Tòa án đệ nhất cấp, Tòa án đệ nhị cấp, Tòa án đệ tam cấp, trong đó, Tòa án đệ nhất cấp là Tòa án cấp thấp nhất còn gọi là Tòa sơ cấp, được đặt ở từng phủ, huyện, châu, đứng đầu là Chánh án.
Trước 1929, Chành án đồng thời là Tri phủ, Tri huyện, Tri châu. Sau 1929, Chánh án ở phủ, huyện, châu lớn thường do ngạch quan tư pháp đảm đương, tuy nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào Tri phủ, Tri huyện, Tri châu. + Tòa án đệ nhất cấp có thẩm quyền xét xử cả việc hộ, việc hình. Nhưng đối với các vụ án hình sự, Tòa án đệ nhất cấp chỉ xét xử những tội vi cảnh.
Bộ luật tố tụng hình sự Bắc Kỳ quy định những tội tiểu hình và đại hình xảy ra ở vùng quản hạt của Tòa đệ nhất cấp thì quan Thẩm phán có nhiệm vụ điều tra, thu thập chứng cứ, truy bắt tội phạm, lập hồ sơ và đệ trình lên Tòa án cấp trên. + Tòa án đệ nhị cấp được đặt ở các tỉnh. Tại mỗi tỉnh có một Tòa, còn gọi là Tòa án tỉnh.