Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Phạm Hoàng Dũng (Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010) được thực hiện trong bối cảnh đất nước đã trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối Đổi mới kinh tế - xã hội. Bên cạnh những thành tựu đạt được, sự gia tăng và diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm đặt ra nhiều thách thức đối với trật tự pháp luật. Hoạt động xét xử của Tòa án – cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp để ra phán quyết về tội phạm và hình phạt – giữ vai trò trung tâm trong hệ thống tư pháp. Theo pháp luật Việt Nam, Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, trong đó cấp sơ thẩm là cấp xét xử lần đầu, quyết định tính đúng đắn, khách quan của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử sơ thẩm thời điểm này còn bộc lộ nhiều bất cập: tính dân chủ chưa thực chất, hiện tượng oan sai vẫn xảy ra, thủ tục tố tụng còn nặng tính hình thức.

Để định hướng cho công cuộc đổi mới tư pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành hai văn kiện chỉ đạo quan trọng: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết 49-NQ/TW đặt ra yêu cầu: Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, xác định tranh tụng là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm bốn nội dung:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành (trọng tâm là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) và chủ trương cải cách tư pháp của Đảng liên quan trực tiếp lẫn gián tiếp đến phiên tòa hình sự sơ thẩm.
  2. Khảo cứu các quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến trước thời điểm nghiên cứu.
  3. Đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng pháp luật tại phiên tòa hình sự sơ thẩm qua bốn giai đoạn: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án; chỉ ra những vướng mắc, hạn chế phát sinh trong thực tế xét xử.
  4. Đề xuất các phương hướng và kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật điều chỉnh phiên tòa hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân các cấp. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 gắn với các yêu cầu cải cách tư pháp tại Việt Nam đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên hệ thống khái niệm và học thuyết pháp lý về tố tụng hình sự. Tác giả điểm luận các trường phái phân chia giai đoạn tố tụng hình sự (thuyết 4 giai đoạn, 5 giai đoạn và mô hình 7 giai đoạn trong Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2008). Khái niệm xét xử sơ thẩm được tổng hợp từ Từ điển Tiếng Việt (1992), Từ điển Luật học (2006), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (1999) cùng quan điểm học thuật của các nhà nghiên cứu: TS. Trần Văn Độ (2004), PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc (2009), TS. Vũ Gia Lâm (2010) và ThS. Đinh Văn Quế (2000). Trên cơ sở đó, khóa luận xác định: Xét xử sơ thẩm là việc xét xử vụ án lần đầu ở cấp xét xử thứ nhất nhằm giải quyết thực chất mọi vấn đề thuộc nội dung vụ án để ban hành bản án hoặc quyết định; bản án, quyết định này chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Tính chất của xét xử sơ thẩm được tác giả luận giải qua ba đặc tính lý luận:

  • Là một phương thức thực hiện quyền lực nhà nước (nhánh quyền tư pháp);
  • Là giai đoạn kết thúc việc giải quyết nội dung vụ án, nơi toàn bộ tài liệu được kiểm tra công khai;
  • Đòi hỏi sự hiện diện đồng thời của ba chức năng tố tụng cơ bản: buộc tội, gỡ tội và xét xử.

Văn bản pháp luật và văn kiện nền tảng được trích dẫn gồm:

  • Pháp luật phong kiến: Bộ Quốc triều hình luật (triều Lê Sơ), Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ (thời Lê Trung Hưng), Bộ Hoàng Việt Luật lệ (triều Nguyễn).
  • Pháp luật hiện đại: Sắc lệnh ngày 13/9/1945, Sắc lệnh số 13 ngày 21/01/1946, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các năm 1960, 1981, 2002; Sắc lệnh số 01 SL/76; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (sửa đổi, bổ sung các năm 1990, 1992, 2000); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
  • Văn kiện chỉ đạo: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học, phương pháp quy nạp và phương pháp thống kê tư pháp. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm văn bản luật, các công trình khoa học pháp lý trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học pháp lý và hồ sơ một số vụ án xét xử thực tế được công bố.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1 - Những vấn đề lý luận chung về phiên tòa hình sự sơ thẩm

Chương 1 xây dựng khung lý luận về vị trí, tính chất và hình thức của phiên tòa sơ thẩm. Tác giả phân tích khái niệm phiên tòa với tư cách là hình thức xét xử của Tòa án theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, phân biệt hai hình thức: phiên tòa cố định (tại trụ sở Tòa án) và phiên tòa lưu động (tiến hành ngoài trụ sở để phục vụ tuyên truyền pháp luật). Thời điểm bắt đầu phiên tòa sơ thẩm được xác định theo Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; thời điểm kết thúc là sau khi Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên Hội đồng xét xử đọc xong bản án (tuyên án) theo Điều 226. Về đặc điểm, đối tượng xét xử của phiên tòa sơ thẩm là cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội của bị cáo, khác với phiên tòa phúc thẩm có đối tượng xem xét là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị (Điều 230).

Phần lịch sử pháp luật ghi nhận sự phát triển của thủ tục tố tụng qua các thời kỳ:

  • Thời phong kiến: Bộ Quốc triều hình luật (thời Lê Sơ, gồm 13 chương, 6 quyển, 722 điều) quy định thủ tục tố tụng tại hai chương Bộ vong và Đoán ngục, phân định thẩm quyền sơ thẩm tại Điều 672 (xã quan, quan huyện, quan lộ, quan phủ, triều đình), giới hạn xét xử theo cáo trạng tại Điều 670, xử phạt quan lại thêm bớt tội tại Điều 686 và loại trừ người làm chứng có thù oán tại Điều 714. Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ (thời Lê Trung Hưng, 31 lệ, 133 điều) là bộ luật tố tụng độc lập duy nhất trong lịch sử cổ trung đại phương Đông, quy định chi tiết thẩm quyền sơ thẩm của Tri phủ, Tri huyện, Thừa ty, Hiến ty và các cơ quan kinh đô tại chương Thông lệ về khám tụng. Bộ Hoàng Việt Luật lệ (triều Nguyễn, 398 điều, 22 quyển) quy định trình tự xét xử tại Quyển 19 và 20 phần Danh lệ, thiết lập thẩm quyền 3 cấp (Điều 376), giới hạn đình xử chờ đối chất không quá 3 ngày (Điều 370) và cấm người thân thuộc, người dưới 10 tuổi hoặc trên 80 tuổi làm chứng (Điều 388).
  • Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945: Pháp luật tố tụng hình sự từng bước được định hình qua các Sắc lệnh thành lập Tòa án quân sự, Tòa án thường (1945–1946), Luật Tổ chức TAND năm 1960, 1981 và đỉnh cao là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (gồm 4 thủ tục sơ thẩm tại các Điều 175 đến 202). Đến năm 2003, Quốc hội thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu mới của công cuộc cải cách tư pháp.

CHƯƠNG 2 - Phiên toà hình sự sơ thẩm theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và thực tiễn áp dụng

Chương 2 tập trung mổ xẻ thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 qua 4 giai đoạn cụ thể của phiên tòa sơ thẩm:

1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa (Điều 201 - Điều 205): Tác giả chỉ ra sự thiếu thống nhất trong thực tế về nghi thức khai mạc: Thẩm phán tuyên bố khai mạc trước hay đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử trước, dẫn đến việc người tham dự phải đứng trong thời gian dài nếu quyết định dài hàng chục trang. Quy định về thay đổi người tiến hành tố tụng (Điều 202, Điều 42) bộc lộ sự bất cập khi hầu hết yêu cầu của bị cáo đều bị bác bỏ do cơ quan tố tụng máy móc đòi hỏi bằng chứng về sự không vô tư, dẫn đến phản ứng tiêu cực (dẫn chứng vụ án Phan Thị Yên Phương tại TAND TP.HCM kiên quyết không trả lời thẩm vấn khi bị bác yêu cầu thay Thẩm phán; vụ án Bùi Ngọc Cảnh tại TAND quận Phú Nhuận khi Tòa chấp nhận thay Kiểm sát viên Hồ Xuân Hùng do không đưa bản phúc cung có lợi vào hồ sơ nhưng Viện kiểm sát quận Phú Nhuận vẫn không chấp hành). Khóa luận phát hiện một lỗ hổng lập pháp: quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng chỉ được quy định ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa; nếu lý do thiên vị xuất hiện ở phần xét hỏi hoặc tranh luận thì các đương sự không có cơ chế pháp lý để yêu cầu thay đổi tại chỗ. Ngoài ra, tác giả phân tích mâu thuẫn kỹ thuật giữa Điều 204 (quy định chủ tọa "có thể" cách ly người làm chứng) với khoản 1 Điều 211 (quy định Hội đồng xét xử "phải" hỏi riêng từng người làm chứng).

2. Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa (Điều 206 - Điều 216): Thực tiễn xét hỏi còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thói quen điều tra tố tụng: Hội đồng xét xử hầu như luôn hỏi bị cáo đầu tiên, tạo định kiến kết tội ngầm định; Thẩm phán chủ tọa "bao sân" chiếm phần lớn thời gian; Hội đồng xét xử đặt câu hỏi mang tính bức cung, mớm cung, mạt sát hoặc giáo dục bị cáo trước khi tuyên án. Hội thẩm nhân dân tham gia mang tính hình thức ("ngồi cho có tụ", nghiên cứu hồ sơ qua loa chỉ từ nửa tiếng đến một ngày trước phiên xử, triệu tập theo kiểu "chữa cháy"). Trách nhiệm chứng minh tội phạm bị chuyển dịch từ Viện kiểm sát sang Tòa án, biến Tòa án thành "cơ quan công tố thứ hai". Kiểm sát viên thường thụ động, chỉ hỏi bổ sung hoặc không hỏi vì cho rằng Tòa đã hỏi hết. Một số Thẩm phán còn tước bỏ quyền trình bày ý kiến về cáo trạng của bị cáo theo khoản 2 Điều 209, buộc bị cáo nhận tội ngay hoặc hoãn quyền này sang phần tranh luận. Khoản 3 Điều 209 quy định Kiểm sát viên hỏi cả tình tiết buộc tội và gỡ tội cũng bị tác giả đánh giá là chưa phân định rành mạch chức năng tố tụng.

3. Tranh luận tại phiên tòa (Điều 217 - Điều 220): Khóa luận chỉ ra bất cập logic tại khoản 1 Điều 217: quy định luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào ý kiến của bị cáo, người bào chữa là không tưởng, bởi Kiểm sát viên phát biểu đầu tiên trong phần tranh luận khi các bên kia chưa hề trình bày ý kiến bảo vệ. Thực tế tranh tụng còn bị hạn chế quyền tự do phát biểu: Thẩm phán tự ý ấn định thời gian tranh luận của luật sư (dẫn chứng vụ án PMU 18 ngày 03/8/2007: Chủ tọa Ngô Thị Yến giới hạn mỗi luật sư nói trong 10 phút, ngắt lời Luật sư Nguyễn Thị Hằng Nga, dẫn đến việc các luật sư Phạm Hồng Hải, Nguyễn Hoàng Bách, Vũ Ngọc Chi, Nguyễn Thị Hằng Nga đồng loạt thu dọn tài liệu rời bỏ phòng xử án). Nhiều Kiểm sát viên né tránh nghĩa vụ đối đáp theo Điều 218 bằng cách diễn giải từ ngữ "Chủ tọa có quyền đề nghị" thành việc họ có quyền từ chối đáp lại, chỉ phát biểu khuôn mẫu "Tôi bảo lưu quan điểm, không có gì đối đáp với luật sư", thậm chí tỏ thái độ nóng nảy khi bị đuối lý.

4. Nghị án và tuyên án (Điều 221 - Điều 226): Hội đồng xét xử tiến hành nghị án bí mật để quyết định các vấn đề vụ án và tuyên đọc công khai bản án; tuy nhiên thực tiễn đánh giá chứng cứ vẫn còn chịu sức ép từ hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thiết lập trước đó.

Bảng tổng hợp bất cập tại phiên tòa sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003

Giai đoạn phiên tòa Điều luật liên quan Bất cập quy định pháp luật Tồn tại trong thực tiễn áp dụng
Thủ tục bắt đầu Điều 201, 202, 204, 211 - Chưa rõ trình tự khai mạc và đọc quyết định.
- Chỉ cho phép thay đổi người tiến hành tố tụng tại phần mở đầu.
- Mâu thuẫn giữa Điều 204 ("có thể" cách ly) và Điều 211 ("phải" hỏi riêng người làm chứng).
- Phòng xử mất trật tự khi đọc quyết định dài.
- Hầu hết yêu cầu thay Thẩm phán, KSV bị bác bỏ.
- Tòa án hầu như không cách ly nhân chứng vì thiếu thốn cơ sở vật chất.
Thủ tục xét hỏi Điều 207, 209 - Khoản 3 Điều 209 buộc KSV hỏi cả tình tiết gỡ tội, làm mờ nhạt ranh giới chức năng công tố. - Thông lệ luôn xét hỏi bị cáo trước gây định kiến.
- Thẩm phán "bao sân", đặt câu hỏi quy chụp.
- Hội thẩm nhân dân tham gia hình thức.
- Tòa án làm thay chức năng chứng minh của VKS.
Tranh luận Điều 217, 218 - Khoản 1 Điều 217 quy định luận tội căn cứ vào ý kiến luật sư/bị cáo là phi logic về trình tự.
- Dùng cụm từ "có quyền đề nghị" khiến KSV hiểu không bắt buộc phải đối đáp.
- Thẩm phán tùy tiện cắt lời, khống chế thời gian phát biểu của luật sư.
- KSV ỷ lại hồ sơ, né tránh tranh luận bằng câu nói "Tôi bảo lưu quan điểm".

CHƯƠNG 3 - Định hướng hoàn thiện phiên tòa hình sự sơ thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam

Chương 3 tổng kết vị trí trung tâm của Tòa án và phiên tòa sơ thẩm trong tiến trình cải cách tư pháp, đồng thời đề ra sáu định hướng hoàn thiện pháp luật:

  1. Đảm bảo tính tranh tụng thực chất tại phiên tòa: Thiết lập sự bình đẳng tuyệt đối giữa bên buộc tội và bên gỡ tội; chuyển toàn bộ nghĩa vụ chứng minh tội phạm sang Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử giữ vai trò trọng tài khách quan, phán quyết dựa trên kết quả tranh tụng công khai.
  2. Xác định rõ chức năng kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát: Phân định ranh giới giữa quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động xét xử nhằm tránh xung đột vị trí tố tụng.
  3. Bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử: Nâng cao năng lực chuyên môn của Hội thẩm nhân dân; nghiên cứu áp dụng chế độ bồi thẩm đoàn (hoặc Hội đồng xét xử chuyên nghiệp toàn Thẩm phán) để loại bỏ tính hình thức.
  4. Hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm: Bảo đảm Tòa án xét xử trong phạm vi cáo trạng nhưng có quyền xem xét toàn diện tội danh theo hướng có lợi cho bị cáo.
  5. Xây dựng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm: Áp dụng đối với các vụ án ít nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nhằm tiết kiệm nguồn lực tư pháp.
  6. Xem xét áp dụng án lệ: Từng bước nghiên cứu, thừa nhận giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của các bản án mẫu trong xét xử hình sự sơ thẩm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện các văn bản tố tụng hình sự qua lịch sử: từ các bộ luật thời phong kiến (Quốc triều hình luật với 722 điều; Quốc triều khám tụng điều lệ với 31 lệ, 133 điều; Hoàng Việt Luật lệ với 398 điều) đến hệ thống sắc lệnh và Bộ luật Tố tụng hình sự các năm 1988, 2003.
  • Bóc tách các mâu thuẫn lập pháp trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: sự không thống nhất giữa Điều 204 và Điều 211 về cách ly người làm chứng; tính chất phi lý của khoản 1 Điều 217 khi quy định bản luận tội phải căn cứ vào ý kiến tranh luận của người bào chữa; lỗ hổng không cho phép đổi người tiến hành tố tụng sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa.
  • Tập hợp và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các án điểm: vụ án Phan Thị Yên Phương (vấn đề thay đổi Thẩm phán), vụ án Bùi Ngọc Cảnh (mâu thuẫn giữa Tòa án và Viện kiểm sát quận Phú Nhuận về tư cách Kiểm sát viên), vụ án Bùi Tiến Dũng/PMU 18 (sự kiện các luật sư rời phòng xử do bị chủ tọa khống chế thời gian tranh luận trong 10 phút).
  • Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể: bổ sung một điều luật riêng về tính chất của xét xử sơ thẩm; mở rộng quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng đến trước thời điểm nghị án; luật hóa nghĩa vụ đối đáp bắt buộc của Kiểm sát viên đối với mọi luận cứ của người bào chữa; điều chỉnh thứ tự xét hỏi để giảm định kiến kết tội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do chính tác giả tự xác định:

  • Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng, bao quát toàn bộ một giai đoạn tố tụng phức tạp; do giới hạn trình độ và thời gian của sinh viên bậc cử nhân, khóa luận chưa thể phân tích thấu đáo mọi khía cạnh tổ chức quyền lực tư pháp.
  • Các định hướng hoàn thiện tại Chương 3 (như chế định bồi thẩm đoàn, áp dụng án lệ, thủ tục rút gọn) mới dừng ở mức xác lập phương hướng và khuyến nghị sửa đổi mang tính khái quát, chưa xây dựng thành dự thảo điều luật chi tiết.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm:

  • Nghiên cứu chuyên sâu về mô hình tranh tụng hình sự kết hợp giữa hệ thống luật lục địa (Civil Law) và hệ thống thông luật (Common Law) trong điều kiện Việt Nam.
  • Khảo sát thực chứng cơ chế giám sát độc lập của Hội đồng xét xử đối với hoạt động công tố tại phiên tòa sơ thẩm.
  • Xây dựng mô hình áp dụng án lệ hình sự trong xét xử sơ thẩm nhằm bảo đảm tính thống nhất của phán quyết tư pháp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng; tiếp cận các phân tích lý luận về ba chức năng cơ bản tại phiên tòa.
  • Người nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam: Tham khảo Chương 1 để nắm bắt toàn diện quá trình tiến hóa của pháp luật tố tụng cổ trung đại (đặc biệt là giá trị độc bản của Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ thời Lê Trung Hưng).
  • Luật sư và cán bộ thực tiễn tư pháp (Kiểm sát viên, Thẩm phán): Tham khảo Chương 2 với hệ thống luận cứ thực chứng về các xung đột quyền hạn tại phiên tòa sơ thẩm, kỹ năng đối đáp tranh tụng và phương pháp khắc phục định kiến trong xét hỏi.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ luật cổ nào trong lịch sử Việt Nam được xác định là bộ luật tố tụng độc lập duy nhất, và quy định xét xử sơ thẩm ra sao? Đó là Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ dưới thời Lê Trung Hưng. Bộ luật gồm 31 lệ với 133 điều. Tại chương Thông lệ về khám tụng, bộ luật phân định thẩm quyền sơ thẩm cụ thể cho Tri phủ, Tri huyện (xử các vụ thù sát, dâm sát, ẩu sát), Thừa ty, Hiến ty (xử tranh chấp ruộng đất, trộm cướp, giết người) và các cơ quan Lục Phiên, Lục Bộ tại kinh đô; đồng thời quy định việc niêm yết ngày xử án và nguyên tắc áp dụng pháp luật so sánh tương tự khi luật chưa có quy định trực tiếp.

2. Tác giả chỉ ra điểm mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp nào giữa Điều 204 và Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về việc hỏi người làm chứng? Điều 204 quy định trước khi hỏi người làm chứng về vụ án, Chủ tọa phiên tòa "có thể" quyết định các biện pháp để người làm chứng không nghe được lời khai của nhau (quy phạm tùy nghi, không bắt buộc). Ngược lại, khoản 1 Điều 211 lại quy định Hội đồng xét xử "phải" hỏi riêng từng người làm chứng và không để cho những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó (quy phạm mệnh lệnh bắt buộc). Sự mâu thuẫn từ ngữ ("có thể" và "phải") dẫn đến sự lúng túng trong áp dụng, và trên thực tế Tòa án rất ít khi cách ly do thiếu điều kiện cơ sở vật chất.

3. Khóa luận dẫn chứng các vụ án cụ thể nào để chứng minh thực trạng khó thay đổi người tiến hành tố tụng tại phiên tòa? Khóa luận viện dẫn hai vụ án: Vụ án Phan Thị Yên Phương (Giám đốc Công ty TNHH Dược phẩm Thiên Phú) tại TAND TP.HCM, bị cáo yêu cầu thay đổi Thẩm phán Vương Văn Nghĩa và Kiểm sát viên nhưng bị bác, dẫn đến việc bị cáo phản ứng bằng cách không trả lời thẩm vấn. Vụ thứ hai là vụ án Bùi Ngọc Cảnh tại TAND quận Phú Nhuận: Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu thay Kiểm sát viên Hồ Xuân Hùng vì ông Hùng không đưa bản phúc cung có lợi vào hồ sơ, nhưng Viện trưởng VKSND quận Phú Nhuận ra văn bản từ chối cử người khác với lý do quyết định của Tòa án không có cơ sở.

4. Tại sao quy định về căn cứ luận tội của Kiểm sát viên tại khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 bị coi là bất cập về logic tố tụng? Khoản 1 Điều 217 quy định luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Tuy nhiên, về trình tự tranh luận, Kiểm sát viên là người phát biểu đầu tiên với bản luận tội mở đầu. Lúc này, người bào chữa và bị cáo chưa hề trình bày ý kiến tranh luận nên Kiểm sát viên không thể căn cứ vào ý kiến chưa được phát biểu để lập luận tội. Quy định này bị đảo ngược logic thực tế giữa trình tự phát biểu và căn cứ lập luận.

5. Vụ việc tranh tụng tại phiên xử vụ án PMU 18 ngày 03/8/2007 được trích dẫn nhằm phản ánh vấn đề gì? Sự việc được trích dẫn để minh chứng cho thực trạng chủ tọa phiên tòa vi phạm quyền tranh luận khi hạn chế thời gian phát biểu của luật sư. Tại phiên tòa này, Chủ tọa Ngô Thị Yến đã khống chế thời gian mỗi luật sư chỉ được nói trong 10 phút và ngắt lời Luật sư Nguyễn Thị Hằng Nga khi đang đối đáp với Viện kiểm sát. Phản đối hành vi này, bốn luật sư gồm Phạm Hồng Hải, Nguyễn Hoàng Bách, Vũ Ngọc Chi và Nguyễn Thị Hằng Nga đã đồng loạt rời khỏi phòng xử án.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Hoàng Dũng đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Việt Nam trong giai đoạn triển khai Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Bằng phương pháp tiếp cận lịch sử và thực tiễn xét xử, công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn về kỹ thuật lập pháp trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và thực trạng hạn chế quyền tranh tụng của đương sự. Các giải pháp hoàn thiện được đề xuất trong khóa luận hướng đến mục tiêu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, minh bạch, bảo vệ quyền con người và bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm.