Chương 1 – Thông lệ về khám tụng của Bộ luật như sau: ● Các nha môn khám án trong kinh và các tỉnh phải niêm yết ngày tháng xét xử của từng vụ kiện để đương sự theo đúng ngày mà đến hầu kiện. Quan khám án ra công đường điều tra khám xét xử phải trái sao cho các bên đều tin phục nghe theo. Quan khám án phải tra xét đôi bên có hay không, thực hay hư để dựa vào mà xét xử phải trái, không được xét xử chung chung mơ hồ. ● Nếu người kiện tụng khiếu nại về việc lập biên bản thiên lệch, làm chứng thiên lệch, đã tra xét mà bỏ trốn không đến hầu tòa, thì mới xét xử đến người lập biên 17 bản, người làm chứng.
Nếu có trường hợp dẫn những người chứng kiến ra làm nhân chứng, muốn những nhân chứng đó chứng thực lời nói của mình mà nhân chứng đã bỏ trốn không đến hầu tòa thì lời nói đó là không có thực, phải tùy theo sự tình mà xử, không được lấy cớ bỏ trốn không trình bày mà xử đến người đã dẫn ra nhân chứng. ● Các nha môn khám án xét xử các vụ kiện tụng đều phải viện dẫn luật lệ và các chính văn hợp cách. Nếu luật không có điều đó thì về lý phải áp dụng các điều tương tự để so sánh, trường hợp nên giảm tội thì nêu việc nặng để thấy là đáng nhẹ; trường hợp đáng tăng thêm tội thì nêu việc nhẹ để thấy là đáng nặng, không được tùy ý tăng giảm.3 Phiên toà hình sự sơ thẩm quy định trong Bộ Hoàng Việt Luật lệ dƣới triều Nguyễn Là triều đại cuối cùng của chế độ quân chủ phong kiến, kế thừa thành tựu xây dựng nhà nước của các triều trước và thiết lập nền thống trị trên phạm vi lãnh thổ rộng nhất, triều Nguyễn đã xây dựng được bộ máy nhà nước có quy mô lớn nhất và hoàn thiện nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Các vua nhà Nguyễn đều quan tâm đến xây dựng luật pháp và chú trọng đến áp dụng pháp luật.
Thành tựu điển hình trong hoạt động lập pháp của triều Nguyễn là Hoàng Việt Luật lệ và các tập Hội điển. Bộ Hoàng Việt luật lệ gồm 398 điều, chia thành 22 quyển. Việc chia quyển bước đầu có sự phân ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật. Thủ tục xét xử được quy định tại Quyển 19, 20 phần Danh lệ với khoảng 35 điều luật.
Bộ Hoàng Việt Luật lệ trừng phạt nghiêm khắc các quan vi phạm luật về xét xử. Người tiến hành xét xử là quan án đại diện của nha môn. Hệ thống pháp đình triều Nguyễn được xây dựng theo nguyên tắc tập trung thống nhất. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án từ nhận đơn, điều tra, khám nghiệm, giam giữ, xét xử, thi hành án đều thuộc thẩm quyền của một nha môn.
Chỉ trong trường hợp án liên quan đến quan chức, án đồ lưu tử, án bị khiếu kiện thì mới trình lên Thượng ty, Kinh thành để phúc thẩm duyệt xét. Quyền duyệt án chung thẩm thuộc về Hoàng đế. Về thẩm quyền xét xử, Điều 376 Bộ Hoàng 18 Việt Luật lệ quy định 3 cấp xét xử dựa trên cơ cấu hành chính, phạm vi thẩm quyền theo vụ việc cũng như mức độ nặng nhẹ của hình phạt. Cấp Huyện (Phủ, Châu): xử các tội quân, lưu, đồ; cấp Tỉnh (Doanh, Trấn): tra xét, ghi chép tội tử; cấp Kinh thành (Kinh Đô): có quyền xét lại các án đồ, lưu, tử, đình nghị và tâu lên vua phê chuẩn.
Người tham gia phiên tòa gồm nguyên cáo, bị cáo, người làm chứng, người đối chất, thân thuộc, người bị hại, người đại diện, người được mời đến khai báo, người viết thay. Một số điều luật liên quan đến việc xét xử như sau: ● Đình xử tù chờ đối chất: Bộ luật quy định, trong vụ án có nhiều đồng phạm với chứng cứ của nhiều người thì chờ đối chất nhưng chỉ trong hạn 3 ngày (Điều 370). Cụ thể: “Phàm khi xử tội, quan xử hỏi về chỗ ở của tội tù để biết có ai cùng phạm tội với y, chúng bạn thấy ở nơi khác, trường hợp đó, quan ti phải ngưng xử để chờ người đối chất”. ● Những người thân thuộc, có quan hệ lâu dài trong công việc hoặc có thù oán, người già trên 80 tuổi, trẻ em dưới 10 tuổi không được làm chứng.
Bị cáo được quyền tự bào chữa, nhận tội bằng văn bản do tự viết hoặc nhờ người khác viết hộ (Điều 388). ● Việc xét xử dựa trên cáo trạng, cáo trạng phải tuyên rõ tội danh căn cứ vào điều luật, hành vi phạm tội và dựa trên cơ sở đơn thưa kiện của nguyên cáo. Nếu có các sự vụ phát sinh, quan Nha môn phải tra cứu đầy đủ, dẫn chiếu điều lệ xem xét, không được xử ngoài vụ việc, không được thêm bớt tội danh. Quan viên mà phạm thì giao cho bộ Hình nghị xử (Điều 371) ● Việc định tội, lượng hình phải tuân thủ nguyên tắc: chỉ căn cứ vào điều luật cụ thể, tôn trọng chứng cứ, căn cứ vào biên bản, xét xử công khai tại công đường, những yếu tố phát sinh cần được xem xét rõ ràng thận trọng (Điều 42, Điều 43, Điều 380).2 Phiên tòa hình sự sơ thẩm quy định trong các văn bản pháp luật từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 Với thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam mới đã ra đời.
Để bảo đảm choTòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh ngày 13/9/1945 về việc thành lập Tòa án quân sự và Sắc lệnh số 13 ngày 21/01/1946 về việc thành lập Tòa án thường. Nhằm thể chế hóa Hiến pháp 1959, Quốc hội đã ban hành Luật tố chức TAND và Luật tổ chức VKS nhân dân 1960. Ở miền Nam sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc lệnh số 01 SL/76 ngày 15/3/1976 về tổ chức TAND. Năm 1980, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới.
Trên cơ sở của Hiến pháp 1980, Luật tổ chức TAND và Luật tổ chức VKS nhân dân 1981 được ban hành thay thế cho Luật tổ chức TAND và Luật tổ chức VKS nhân dân 1960. Các văn bản pháp luật trên đã góp phần vào việc khắc phục những thiếu sót, sai lầm trong việc giải quyết vụ án hình sự. Dựa trên việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, kế thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sự trước đây cũng như theo tinh thần đổi mới tư duy pháp lý, có tham khảo và chọn lọc kinh nghiệm một số nước, các văn kiện pháp lý quốc tế tiến bộ. Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 28 tháng 6 năm 1988 và ra Nghị quyết thi hành bộ luật.
Bộ luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1989. Để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLTTHS 1988 đã quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm xử lý công minh, kịp thời tội phạm và người phạm tội. Trong đó, các nội dung liên quan đến việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm bước đầu đã có những quy định khá chi tiết như: + Thủ tục bắt đầu phiên tòa (từ Điều 175 đến Điều 179): với các quy định về trình tự, thủ tục để bắt đầu phiên tòa; giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, Thư ký phiên tòa; giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch và người giám định; giải thích nghĩa vụ và cách ly người làm chứng; giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt. 20 + Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa (từ Điều 180 đến Điều 190): với các quy định liên quan đến trình tự xét hỏi đối với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó, người làm chứng, người giám định.
Cùng với đó là việc xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét hoặc báo cáo của các cơ quan, tổ chức nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án. + Tranh luận tại phiên tòa (từ Điều 191 đến Điều 194): với các quy định cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diên hợp pháp của họ được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, phân tích, đánh giá chứng cứ, đề nghị áp dụng luật và giải quyết các vấn đề của vụ án. + Nghị án và tuyên án (từ Điều 196 đến Điều 202): với các quy định liên quan đến việc thảo luận và quyết định bản án nhằm đảm bảo cho việc Tòa án ra bản án chính xác về nội dung, chặt chẽ về hình thức pháp lý, có giá trị bắt buộc đối với các cá nhân và tổ chức liên quan. Tuy nhiên, do BLTTHS 1988 được nghiên cứu và xây dựng ngay trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới nên trong quá trình thi hành đã thể hiện những hạn chế và bất cập nhất định.
Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào tháng 6 năm 1990, tháng 12 năm 1992, tháng 6 năm 2000 nhưng các lần sửa đổi, bổ sung này chỉ mới tập trung vào một số nội dung cấp bách để đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, chưa có điều kiện để sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện nên chưa khắc phục được hết các hạn chế và bất cập đó. Cùng với công cuộc cải cách kinh tế, cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp. Việc ban hành Nghị quyết số 08 ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát 2002,…đã tạo ra sự thay đổi, chuyển biến lớn về hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nói riêng.