Chương 1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT 1. TỔ CHỨC CƠ QUAN CÔNG TỐ - TIỀN THÂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1960 Với cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, nước ta giành được độc lập. Tuy nhiên, chúng ta phải đối phó với các thế lực thù địch, thù trong giặc ngoài chống phá quyết liệt, reo rắc tư tưởng hoài nghi kích động bạo lực. Chưa thời kỳ nào cách mạng Việt Nam phải đối phó với nhiều thế lực, đảng phái chính trị như giai đoạn 1945 - 1946.
Đứng trước diễn biến phức tạp của tình hình cách mạng hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan được giao thực hiện quyền công tố nhà nước nói riêng được tổ chức rất đa dạng, linh hoạt phục vụ nhiệm vụ của cách mạng, trong đó sự phát triển của ngành công tố từ năm 1945 đến trước 1958 chủ yếu gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của ngành Tòa án. Ngày 13/9/1945 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 33c về việc thành lập Tòa án quân sự - đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án, đồng thời cũng là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước ta. Tòa án quân sự được tổ chức ở khắp ba miền Bắc - Trung - Nam là sự hiện diện đầu tiên của tổ chức công tố và quyền công tố. Về chức năng công tố, Điều V Sắc lệnh 33C quy định rõ: "Đứng buộc là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của Ban trinh sát".
Một công cáo ủy viên quyết định truy tố một người ra xét xử tại Tòa án và thực hiện sự buộc tội trước Tòa án. Như vậy lần đầu tiên chức năng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp lý do người đứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ ban hành. Nội dung của 7 z quyền công tố theo quy định tại Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án. Ngày 17/11/1950 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 155 thay thế tất cả các Sắc lệnh đã ban hành trước đây về Tòa án quân sự.
Về thẩm quyền: Tòa án quân sự được quyền xét xử tất cả các tội phạm xảy ra trước hoặc sau ngày 19/8/1945 xâm hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trừ những tội phạm do binh sĩ thực hiện thì do Tòa án binh xét xử. Theo đó chức năng công tố được giao cho Công tố ủy viên hoặc Phó công tố ủy viên phụ trách việc buộc tội. Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh để xét xử những tội phản cách mạng, những tội vi phạm trật tự quân đội thì việc thành lập Tòa án thường để xét xử các tội phạm và vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ nhà nước và bảo vệ nhân dân rất cần thiết. Ngày 24/1/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán (trong đó có Thẩm phán buộc tội); ngày 17/4/1946 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 51 ấn định thẩm quyền Tòa án và sự phân công nhiệm vụ giữa các nhân viên trong Tòa án; ngày 20/7/1946 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 131 bổ sung Sắc lệnh số 51, về thẩm quyền tổ chức bộ máy của Tòa án thường có Tòa sơ cấp, Tòa đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm.
Cơ quan công tố được tổ chức trong Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm, tạo thành một đoàn thể độc lập với các Thẩm phán xét xử. Phiên tòa sơ thẩm không có chức danh Biện lý hay đại diện của cơ quan công tố, Thẩm phán vừa làm nhiệm vụ buộc tội vừa làm nhiệm vụ xét xử, Lục sự giữ bút ký và biên bản án từ. Tòa đệ nhị cấp có một Chánh án, một Dự thẩm, một Chánh lục sự và các Thư ký giúp việc; Tòa thượng thẩm có Chánh nhất hay một Chánh án phòng giữ vai trò chủ toạ và hai Hội thẩm. Chưởng lý, Phó chưởng lý hoặc Tham lý ngồi ghế Công tố viên, giữ quyền công tố.
Về thẩm quyền của cơ quan công tố giai đoạn 1945 đến 1958 Trong lĩnh vực tố tụng hình sự: Có quyền điều khiển và giám sát hoạt động của Ban tư pháp cảnh sát trong quản hạt của mình; có quyền nhận đơn khởi tố của tư nhân, biên bản do ban tư pháp cảnh sát thành lập. Có quyền kháng cáo mệnh lệnh của Dự thẩm. Tại phiên tòa, Biện lý thay mặt xã hội buộc tội bị can; có trách nhiệm tổ chức thi hành cấp tốc những mệnh lệnh của Chánh án tại phiên tòa. Có quyền kháng cáo bản án hình sự của Tòa án; có trách nhiệm thi hành những bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Trong lĩnh vực tố tụng dân sự: Có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của các vị thành niên, của các pháp nhân hành chính bắt buộc phải có mặt trong những phiên tòa xử án dân sự và có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng mọi biện pháp cần thiết để chứng tỏ sự thật của vụ án. Trong thời kỳ này, phạm vi thẩm quyền của cơ quan công tố không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực hình sự mà cơ quan công tố còn tham gia vào quá trình giải quyết các việc dân sự, có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, trông nom việc thi hành các đạo luật của nhà nước. Về mối quan hệ giữa cơ quan công tố với các cơ quan tố tụng khác giai đoạn 1945 đến 1958 Quan hệ với thẩm phán xét xử: Các thẩm phán buộc tội do chưởng lý đứng đầu. Các thẩm phán buộc tội của Tòa thượng thẩm hợp thành một đoàn thể độc lập đối với các Thẩm phán xử án và duy nhất đặt dưới quyền quản lý của Chưởng lý.
Chưởng lý giữ toàn quyền truy tố và hành động. Như vậy trong thời kỳ này mặc dù cơ quan công tố được tổ chức trong hệ thống Tòa án thường nhưng hoạt động của cơ quan công tố hoàn toàn độc lập với hoạt động xét xử của Tòa án. Việc quyết định truy tố hay không truy tố cũng như việc quản lý các Thẩm phán buộc tội hoàn toàn thuộc thẩm quyền 9 z của người đứng đầu Công tố viện (Chưởng lý). Điều 17 Sắc lệnh quy định: "Ông Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả các nhân viên khác trong Tòa án, trừ các Thẩm phán buộc tội".
Quan hệ với Tư pháp công an: Công tố có trách nhiệm phụ trách tư pháp công an và các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra. Tư pháp Công an đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Chưởng lý, Biện lý. Biện lý có quyền ra chỉ thị và kiểm soát công việc của tất cả ủy viên Tư pháp công an. Việc bổ sung, thăng trưởng và trừng phạt hành chính những ủy viên Tư pháp công an phải trên cơ sở ý kiến đồng ý của Biện lý và Chưởng lý.
Trong điều kiện đất nước có chiến tranh việc tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy cơ quan tư pháp nói riêng linh hoạt như thời kỳ đầu về cơ bản là phù hợp với điều kiện nước ta. Tuy nhiên, sau năm 1954 chúng ta thực hiện đồng thời hai cuộc cách mạng, việc tiếp tục tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp như giai đoạn trước không còn phù hợp nữa. Trước sự chuyển biến của tình hình cách mạng, sự trưởng thành của các cơ quan tư pháp đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản, sâu sắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có cơ quan công tố để bảo đảm mở rộng dân chủ, tăng cường chuyên chính, bảo đảm việc trừng trị bọn phản cách mạng và các tội phạm khác kịp thời, đúng người, đúng tội. VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG CỦA VIỆN CÔNG TỐ Tại phiên họp ngày 29/4/1958, Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo Quốc hội về việc thành lập Tòa án tối cao và thành lập Viện công tố cả hai cơ quan này tách khỏi Bộ Tư pháp.
Tòa án tối cao và Viện công tố có quyền hạn và trách nhiệm ngang một Bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Quốc hội đã thông qua đề án của Hội đồng Chính phủ. Vị trí của Viện công tố 10 z Viện Công tố được tổ chức thành một hệ thống cơ quan độc lập, tách khỏi tổ chức của Tòa án và sự quản lý của Bộ Tư pháp, đặt Viện công tố trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm, quyền hạn ngang một Bộ. Về chức năng của Viện công tố - Điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự.
- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Tòa án. - Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của cơ quan tư pháp. - Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân. Ngoài nhiệm vụ điều tra, truy tố trước Tòa án, Viện công tố còn được giao nhiệm vụ quan trọng là giám sát chấp hành pháp luật trong lĩnh vực tư pháp (giám sát hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động giam giữ cải tạo, thi hành các bản án dân sự.
Về tổ chức bộ máy của Viện công tố - Viện Công tố trung ương có Văn phòng; Vụ giám sát điều tra; Vụ giám sát xét xử; Vụ giám sát giam giữ cải tạo. - Viện Công tố địa phương các cấp gồm: Viện công tố Hà Nội; Hải Phòng; Công tố khu Hồng Quảng; Viện công tố các tỉnh và khu vực Vĩnh Linh, công tố huyện và đơn vị tương đương cấp huyện. - Viện công tố quân sự các cấp. Ngành Công tố tách khỏi hệ thống Bộ Tư pháp, được tổ chức từ trung ương xuống địa phương.
Ở địa phương Viện công tố chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính cùng cấp, đồng thời chịu sự lãnh đạo của Viện công tố trung ương. Viện Công tố các cấp đều được tổ chức gắn liền với hệ thống hành chính cấp trung ương, tỉnh, huyện. 11 z Ủy ban công tố được làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những việc quan trọng đều phải được đưa ra Ủy ban thảo luận và quyết định.