Mở đầu, Kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Nguyên nhân Trung Quốc tiến hành cải cách thể thế khoa học kỹ thuật. 13 Chƣơng này tập trung giới thiệu các khái niệm có liên quan về thể chế và cải cách thể chế khoa học kỹ thuật; phân tích các nguyên nhân bên trong và bên ngoài dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc. Chƣơng 2: Quá trình và nội dung cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc Chƣơng này luận văn đã nêu ra bối cảnh ra đời và khái quát quá trình cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc. Nội dung, thành tựu cũng nhƣ những tồn tại và giải pháp của Trung Quốc cho cải cách thể chế khoa học kỹ thuật cũng đã đƣợc luận văn phân tích và làm rõ.
Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Chƣơng này luận văn đã nêu rõ thực trạng cơ chế chính sách quản lý, phát triển của khoa học công nghệ Việt Nam trong những năm gần đây thông qua phân tích đánh giá một số vấn đề cơ bản nhƣ: cơ chế tài chính, cơ chế quản lý nhân lực khoa học công nghệ. Ngoài ra, luận văn đã đƣa ra ý kiến gợi mở góp phần đổi mới cơ chế, chính sách quản lý phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam phù hợp với nhu cầu thực tế. Cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc là một chủ đề còn ít đƣợc tìm hiểu và nghiên cứu ở Việt Nam. Vì vậy, mặc dù đã rất cố gắng, em tự nhận thấy bản luận văn này vẫn còn nhiều mặt cần đƣợc hoàn thiện.
Em rất mong Quý Thầy/ Cô trong Hội đồng đóng góp ý kiến và chỉ bảo. 14 CHƢƠNG 1 NGUYÊN NHÂN TRUNG QUỐC TIẾN HÀNH CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC KỸ THUẬT 1. Thể chế khoa học kỹ thuật Hiện nay trên thế giới nói chung cũng nhƣ ở Việt Nam nói riêng vẫn chƣa hình thành một khái niệm thống nhất về thể chế khoa học kỹ thuật. Đại đa số các học giả khi nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến thể chế khoa học kỹ thuật đều chƣa đƣa ra đƣợc định nghĩa chính xác về thể chế khoa học kỹ thuật.
Nhƣng nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật là những nhận thức hiểu biết chung mà các học giả nghiên cứu về thể chế khoa học kỹ thuật đã đƣa ra. Trong bối cảnh nhƣ vậy, điều cần thiết là chúng ta cần phải nắm bắt đƣợc nội hàm của khoa học kỹ thuật từ góc độ thực tiễn. Cổ Tiêu Nhân (2003) cho rằng:“Về bản chất, thể chế là hình thái hiện thực cụ thể của chế độ, bao hàm trong phạm trù chế độ”.3 Chính vì vậy, bản chất của thể chế khoa học kỹ thuật là việc chế độ hóa của các hoạt động khoa học kỹ thuật, cũng là hệ thống thể chế xã hội của khoa học kỹ thuật. Nội dung của cải cách thể chế khoa học kỹ thuật chủ yếu bao gồm: Cơ cấu tổ chức khoa học kỹ thuật, điều chỉnh pháp quy chính sách khoa học kỹ thuật và chuyển dịch của cơ chế vận hành khoa học kỹ thuật.
Cùng với đó, các học giả nghiên cứu cũng cho rằng thể chế khoa học kỹ thuật bao gồm ba nội dung, đó là: Cơ cấu tổ chức khoa học kỹ thuật, pháp quy chính sách khoa học kỹ thuật và cơ chế vận hành khoa học kỹ thuật. Điều này phản ánh giới học thuật có nhận thức chung nhất quán đối với nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật. Hiện tại, “ 3 从本现上现,体制是制度的具体现现形现,包含在制度的范畴内”. 古现仁 (2003)〃 “现现型 现期科技体制的现迁及其现现现现展的促现”。南宁:广西大学科学技现哲学现士现文, 2 现.
15 chƣa có nhà nghiên cứu nào đi sâu tiến hành phân tích và mô tả chi tiết về các khái niệm và nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật. Phƣơng Tâm Tại trong bài viết “ Khung phân tích trong nghiên cứu thể chế khoa học” đã đƣa ra giới định về nội hàm và khái niệm của thể chế khoa học kỹ thuật. Đó là “Thể phức hợp của sự phát triển các tổ chức khoa học kỹ thuật. Các tổ chức này có liên quan đến việc phân bổ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu của cá nhân, tập thể và đất nước.
Nó chủ yếu bao gồm hai mặt kết cấu hệ thống khoa học kỹ thuật (hệ thống tổ chức) và cơ chế vận hành (hệ thống quy tắc). Hai mặt này hỗ trợ cho nhau, là điều kiện để cùng nhau tồn tại. Trong đó, cơ chế vận hành là nguyên tắc để cá nhân và tổ chức trong thể chế khoa học kỹ thuật triển khai hoạt động; thực hiện quản lý khoa học kỹ thuật, nó thuộc các tổ chức của hệ thống nội bộ, thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với nhau, giữa tổ chức và cá nhân, thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa môi trường bên ngoài và hệ thống khoa học kỹ thuật”. Theo tôi, thể chế khoa học kỹ thuật là cơ chế vận hành và cơ cấu tổ chức của khoa học kỹ thuật.
Khái niệm cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Khoa học kỹ thuật là động lực để phát triển kinh tế. Và khi kinh tế phát triển lại đòi hỏi khoa học kỹ thuật cũng phải thay đổi phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nên cải cách kinh tế tất yếu sẽ kéo theo cải cách khoa học kỹ thuật. Kinh tế kế hoạch trƣớc kia của Trung Quốc học theo mô hình của Liên Xô đã đóng vai trò nhất định trong thời kỳ kinh tế phát triển theo chiều rộng.
Nhƣng khi kinh tế bƣớc đến giai đoạn phát triển theo chiều sâu thì thể chế kinh tế kế hoạch đã dần bộc lộ những hạn chế: thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm phát triển khoa học công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với ngƣời lao động, kìm hãm tính năng động sáng tạo… Thực tế đã đặt ra yêu cầu Trung Quốc phải tiến hành cải cách thể chế kinh tế từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế 16 thị trƣờng. Trƣớc tiên ở nông thôn, Trung Quốc đã từng bƣớc thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản lƣợng đến hộ gia đình, khiến cho những ngƣời nông dân trở thành chủ thể kinh tế kinh doanh tự chủ, nâng cao giá trị sản phẩm nông sản, mở cửa thị trƣờng thành thị và nông thôn. Sau đó, ở thành thị thì tiến hành thí điểm cải cách mở rộng quyền tự chủ kinh doanh xí nghiệp, giảm bớt kế hoạch pháp lệnh đối với sản xuất và tiêu thụ…Những cải cách này có hiệu quả thể chế rất rõ, kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị trở nên nhộn nhịp, thu nhập của những ngƣời dân tăng lên đáng kể. Chính những điều này đã thuyết phục mạnh mẽ đông đảo ngƣời dân chấp nhận cải cách thể chế kinh tế theo hƣớng thị trƣờng.
Kinh tế thị trƣờng tạo động lực lao động tích cực, tự giác cho từng ngƣời lao động thông qua cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy chuyên môn hóa ngày càng sâu để phát huy tiềm năng nhiều mặt của ngƣời lao động, phối hợp, điều tiết hành vi của mọi ngƣời một cách tự giác thông qua cơ chế trao đổi hàng hóa một cách tự nguyện, thỏa thuận theo quy luật cung - cầu. So với cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nƣớc trong thời bao cấp, kinh tế thị trƣờng không tốn chi phí lập và điều hành kế hoạch, mà lại phát huy đƣợc sức mạnh của con ngƣời. Cải cách kinh tế từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trƣờng đã góp phần to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội. Trong đó vai trò nòng cốt của khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế ngày càng đƣợc nhận thức rõ ràng.
Các thành tựu khoa học kỹ thuật là động lực chủ yếu cho phát triển kinh tế. Yêu cầu đặt ra đối với cải cách thể chế khoa học kỹ thuật để phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội là đòi hỏi tất yếu đối với mỗi quốc gia trên con đƣờng xây dựng đất nƣớc. Để thúc đẩy sự phát triển đất nƣớc, một trong những điều quan trọng nhất là phải cải cách thể chế khoa học kỹ thuật. Hiện nay, khoa học kỹ thuật 17 ngày càng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội cũng nhƣ sự phát triển ổn định lâu dài của đất nƣớc.
Bởi vì, khi khoa học kỹ thuật phù hợp với sự phát triển của thời đại, của nhu cầu xã hội nó sẽ góp phần thúc đẩy mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia. Ngƣợc lại nếu khoa học kỹ thuật lỗi thời, kém phát triển nó sẽ trở thành nhân tố cản trở kìm hãm sự phát triển tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia. Theo tôi, cải cách thể chế khoa học kỹ thuật là thay đổi căn bản thể chế khoa học kỹ thuật cũ trƣớc đây chứa đựng nhiều khiếm khuyết, thiếu sót không còn phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội, xây dựng thể chế khoa học kỹ thuật mới làm cho nó đƣợc hoàn thiện và phát huy hơn nữa để phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế xã hội. Nguyên nhân Trung Quốc tiến hành cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Nguyên nhân dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật chính là những mâu thuẫn bên trong của thể chế khoa học kỹ thuật và những áp lực của nhân tố bên ngoài.
Sự tác động của hai nhân tố này là nguyên nhân quan trọng đã dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân bên trong Cho dù là do cải cách thể chế khoa học kỹ thuật hay là do sự tự biến đổi một cách tự phát của khoa học kỹ thuật thì nó đều xuất phát từ sự không thích ứng của kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật và thể chế khoa học kỹ thuật dẫn đến. Trƣớc tiên, sự không thích ứng này thể hiện ở mâu thuẫn bên trong của thể chế khoa học kỹ thuật. Một là, mẫu thuẫn giữa phân bổ nguồn lực và cơ cấu tổ chức.
Hai là, mâu thuẫn giữa cơ chế vận hành và cơ cấu tổ chức. Ba là, mâu thuẫn giữa cơ chế vận hành, cơ cấu tổ chức và chức năng. Những mâu thuẫn này không chỉ tự phát từ nội tại của thể chế khoa học kỹ thuật mà 18 còn bị tác động bởi điều kiện của bên ngoài, khiến cho thể chế khoa học kỹ thuật nảy sinh nhiều vấn đề. Những vấn đề đó đƣợc cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, cơ chế vận hành đơn nhất.