Tổng quan luận án
Công tác cải cách hành chính (CCHC) là nội dung trọng tâm trong quản trị quốc gia nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước (QLNN). Tại Việt Nam, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và trong Chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020, CCHC được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách thể chế. Trong lĩnh vực QLNN về khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta và Bộ Công an, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn nảy sinh nhiều hạn chế: khâu lập kế hoạch KH&CN còn dàn trải, thiếu trọng tâm, chưa theo kịp nhu cầu thực tế; quy trình đánh giá nghiên cứu khoa học còn chung chung, chưa phản ánh bản chất kết quả; cơ chế tài chính cứng nhắc, phức tạp, chưa phù hợp đặc thù lao động khoa học; hệ thống thông tin KH&CN còn manh mún, khép kín; phương thức quản lý mang tính thủ công và cơ chế "xin - cho" còn tồn tại. Luận án của nghiên cứu sinh Hoàng Minh Huệ (bảo vệ năm 2014 tại Học viện Kỹ thuật Quân sự dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Minh Chính và PGS.TS Vũ Thanh Hải) giải quyết khoảng trống khoa học khi là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về CCHC trong QLNN đối với lĩnh vực KH&CN tại Bộ Công an.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi về CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN ngành Công an, tập trung vào việc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng kinh phí đầu tư và thiết lập môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu bằng nguồn ngân sách nhà nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CCHC trong QLNN về KH&CN: xây dựng các khái niệm công cụ (CCHC, QLNN, CCHC trong QLNN về KH&CN); làm rõ đặc điểm QLNN về KH&CN nói chung và ở Bộ Công an nói riêng; hệ thống hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về CCHC.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn: đánh giá thực trạng CCHC trong QLNN về KH&CN ở nước ta và Bộ Công an; phân tích kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an đến năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu là công tác hành chính và CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào các khâu hành chính trong quản lý hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) sử dụng ngân sách nhà nước. Không gian khảo sát số liệu thực tế được thực hiện chủ yếu tại Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Viện Chiến lược và khoa học Công an (hai cơ quan thực hiện chức năng QLNN về KH&CN ở Bộ Công an), cùng một số Tổng cục, Học viện, Nhà trường trong Công an Nhân dân (CAND); các đơn vị khác sử dụng số liệu từ báo cáo tổng kết hội nghị, hội thảo toàn ngành. Thời gian khảo sát số liệu từ năm 2006 đến năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc các nhóm nội dung:
Các nghiên cứu quốc tế về mô hình quản lý KH&CN và CCHC:
- Theo tổng hợp của Nguyễn Sỹ Lộc [56], thế giới tồn tại 4 mô hình thể chế quản lý KH&CN: mô hình quản lý tập trung cao độ (điển hình ở Liên Xô cũ với kế hoạch pháp lệnh và quan hệ trực thuộc hành chính); mô hình phân tán đa nguyên (điển hình tại Mỹ với Văn phòng Chính sách KH&CN trực thuộc Tổng thống mang tính tư vấn và Quỹ Khoa học Quốc gia cấp phát kinh phí độc lập, cùng các nước Anh, Thụy Điển, Đan Mạch); mô hình tập trung điều tiết hài hòa (kết hợp tập trung và phân tán tại Pháp và Nhật Bản); mô hình tập trung kết hợp phân tán kiểu hỗn hợp (các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan với 70-80% nguồn vốn KH&CN từ khu vực tư nhân).
- Các công trình CCHC quốc tế: Administrative Reforms: Towards Sustainable Practices [90] phân tích CCHC tại Ấn Độ; Administrative Reform in Developing Nations [91] nghiên cứu CCHC tại các quốc gia đang phát triển; Handbook of Administrative Reform: An International Perspective [92] khảo sát chiến lược CCHC tại 9 quốc gia Bắc Mỹ, châu Âu và Mỹ Latinh; Re-Thinking Administrative Reforms in Southeast Asia [93] nghiên cứu bộ máy hành chính công tại Malaysia, Singapore, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Philippines, Myanmar; "Getting the State Right": A Contingency Theory of Administrative Reforms in Ontario and Ghana [94] chỉ ra 6 biến số chi phối CCHC (thể chế, lịch sử, kinh tế - xã hội và chính trị, hệ thống quản trị, ảnh hưởng bên ngoài, văn hóa); The Future of Public Administration Around the World: The Minnowbrook Perspective [95] tập trung vào thách thức quản trị công trong thế kỷ 21.
Các nghiên cứu trong nước về CCHC và quản lý KH&CN:
- Về CCHC nói chung: Hồ Bá Thâm (2008), Nguyễn Duy Gia (1998, 2005), Nguyễn Ngọc Hiến (2001), Diệp Văn Sơn (2006), Vũ Huy Từ và Nguyễn Khắc Hùng (1998), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia của Học viện Hành chính (2012).
- Về quản lý KH&CN và cơ chế chính sách: Nguyễn Mạnh Quân [60] nghiên cứu chiến lược KH&CN theo hướng đổi mới; Đỗ Nguyên Phương [64] nghiên cứu quản lý KH&CN cấp địa phương (Sở KH&CN và Phòng KH&CN); Nguyễn Thanh Thịnh [74] đề xuất chuyển từ kế hoạch hóa pháp lệnh bao cấp sang kế hoạch hóa cân đối cung - cầu; Nguyễn Thị Anh Thu [76, 77] nghiên cứu đổi mới chính sách nhân lực và xác định thù lao lao động khoa học theo nhiệm vụ; Đặng Duy Thịnh [78] nghiên cứu cơ chế tài chính và hỗ trợ đổi mới công nghệ; Nguyễn Thanh Hà [42] nghiên cứu cơ chế quỹ đầu tư mạo hiểm; Nguyễn Thị Minh Nga [59] nghiên cứu dịch vụ tư vấn KH&CN; Hoàng Ngọc Doanh, Vũ Cao Đàm, Trần Trí Đức [31] nghiên cứu hệ thống tiêu chí đánh giá KH&CN dựa theo loại hình nghiên cứu (cơ bản, ứng dụng, triển khai) và 5 lĩnh vực khoa học.
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Lê Hồng Sơn (2004) nghiên cứu thủ tục hành chính về quyền con người; Phan Hải Hồ (2013) về công chứng, chứng thực; Trần Hòa Bình (2013) về giáo dục không chính quy; Lê Hồng Tịnh (2013) về Tổng công ty nhà nước; Nguyễn Đình Hậu (2012) về R&D trong cơ khí quốc phòng.
- Các tài liệu trong ngành Công an: Kỷ yếu Hội nghị KHKT công nghệ và môi trường CAND năm 2005 của Tổng cục Kỹ thuật (tham luận của Bùi Công Tộ, Nguyễn Hữu Chất); Hội thảo năm 2007 của Viện Chiến lược và khoa học Công an (tham luận của Bùi Quảng Bạ, Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Trung Thành); Kỷ yếu sơ kết 3 năm thực hiện Chiến lược KH&CN CAND năm 2007; Kỷ yếu Hội thảo CCHC năm 2007 [17]; Hội thảo Ứng dụng CNTT phục vụ CCHC năm 2007 [15]; Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 10 năm công tác Hậu cần - Kỹ thuật CAND 2001-2010 [16].
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đã công bố chỉ giải quyết từng khía cạnh riêng rẽ về CCHC hoặc quản lý hoạt động chuyên môn. Trong lực lượng CAND, các nghiên cứu CCHC trước đây tập trung chủ yếu vào dịch vụ hành chính công phục vụ nhân dân (quản lý cư trú, chứng minh nhân dân, xuất nhập cảnh, trật tự giao thông). Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu toàn diện việc cải cách thủ tục và phương thức QLNN đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nội bộ bằng nguồn ngân sách nhà nước trong Bộ Công an.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm và học thuyết quản lý:
- Khái niệm khoa học: Được tiếp cận theo 3 góc độ: (1) Hệ thống tri thức tĩnh tại; (2) Hình thái ý thức xã hội độc lập tương đối; (3) Hoạt động xã hội đặc thù tìm kiếm cái chưa biết.
- 10 đặc điểm của nghiên cứu khoa học: (1) Tính mới; (2) Tính tin cậy của kết quả; (3) Tính dự báo đi trước thời gian; (4) Tính thông tin; (5) Tính khách quan; (6) Tính khả thi và rủi ro; (7) Tính kế thừa; (8) Tính cá nhân; (9) Tính bất định của sản phẩm dự kiến; (10) Tính phi kinh tế (khó định mức lao động, thiết bị hao mòn vô hình nhanh và tần suất sử dụng không đều, hiệu quả kinh tế không thuần túy).
- Khái niệm công nghệ và 4 thành tố theo Naware Sharif: Gồm phần kỹ thuật (technoware), phần thông tin (infoware), phần con người (humanware), phần tổ chức (orgaware). Ba đặc điểm của hoạt động công nghệ gồm: tính lặp lại chu kỳ, tính tin cậy của quá trình, tính xác định của sản phẩm.
- Mối quan hệ KH&CN theo phân kỳ của Kedrov: Giai đoạn I (cổ đại, khoa học đi sau giải thích công nghệ), Giai đoạn II (thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XX, khoa học đi ngang hàng công nghệ), Giai đoạn III (từ nửa sau thế kỷ XX, khoa học đi trước dẫn đường cho công nghệ). Luận án phân tích sự kết hợp giữa mô hình "Thị trường kéo" và mô hình "Khoa học và Công nghệ đẩy" (Shukhardin).
- Khái niệm quản lý và QLNN: Tiếp cận quan điểm của C.Mác (quản lý điều phối lao động chung), thuyết quản lý theo khoa học của F.W. Taylor, thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol, thuyết quản lý tổ chức của Chester Barnard, các thuyết văn hóa quản lý; định nghĩa QLNN theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp từ Giáo trình quản lý hành chính nhà nước. QLNN về KH&CN mang đặc điểm nổi bật là tính linh hoạt, giãn đàn hồi và thích ứng cao.
- Khung tiến trình cải cách KH&CN tại Việt Nam được hệ thống hóa qua nghiên cứu của Vũ Cao Đàm [39]:
| Thời gian |
Triết lý cải cách |
Văn bản chính sách |
| Trước 1981 |
Nhà nước độc tôn chỉ huy hoạt động KH&CN |
Nhiều văn bản |
| 1981 |
Phi tập trung hoá kế hoạch KH&CN |
Quyết định 175/CP |
| 1987 |
Phi hành chính hoá các quan hệ hợp tác KH&CN; Thương mại hoá sản phẩm R&D |
Nghị định 134/HĐBT |
| 1988 |
Tư nhân hoá quan hệ hợp tác chuyển giao công nghệ |
Pháp lệnh chuyển giao công nghệ |
| 1992 |
Dân sự hoá hoạt động KH&CN |
Nghị định 35/HĐBT |
| 2005 |
Tự trị hoá tổ chức KH&CN (công lập) |
Nghị định 115/2005/NĐ-CP |
| 2007 |
Tiếp tục tự trị hoá tổ chức KH&CN (công lập) |
Nghị định 80/2007/NĐ-CP |
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai theo hướng hỗn hợp:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích hệ thống văn bản pháp quy (Luật KH&CN 2000, Luật KH&CN 2013, Quyết định 171/2004/QĐ-TTg, Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Thông tư 11/2012/TT-BCA; Nghị quyết 06 năm 1981, Chỉ thị 18/CT-BNV năm 1989, Chỉ thị 16/CT-BNV năm 1992, Chỉ thị 13-CT/BNV năm 1993, Nghị quyết 04 năm 1997, Chỉ thị 02/2003/CT-BCA, Quyết định 1246/QĐ-BCA năm 2004).
- Phương pháp điều tra xã hội: Khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến gửi tới các chuyên gia, cán bộ quản lý và các tổ chức nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu, thảo luận bàn tròn nhóm chuyên gia, sinh hoạt hội đồng, kết hợp phương pháp Delphi để xử lý, kiểm định các quan điểm khoa học đối lập.
- Phương pháp xử lý thông tin: Dữ liệu định lượng được phân tích bằng phương pháp thống kê toán học qua phần mềm SPSS; dữ liệu định tính được phân loại, sắp xếp, tổng hợp bằng Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết kinh nghiệm quốc tế về các mô hình QLNN đối với KH&CN (mô hình tập trung của Liên Xô cũ, mô hình phân tán của Mỹ, mô hình điều tiết hài hòa của Pháp và Nhật Bản, mô hình hỗn hợp của Hàn Quốc và Đài Loan). Tác giả chỉ ra xu thế chung của thế giới: tập trung quản trị tầm vĩ mô, tăng quyền tự chủ cho cơ sở R&D, ổn định cơ cấu tổ chức "cứng" và liên tục hoàn thiện cơ chế thể chế "mềm", đẩy mạnh quốc tế hóa nghiên cứu. Chương 1 phân tích tiến trình CCHC tại Việt Nam qua hệ thống luật pháp và các chính sách tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP; điểm lại lịch sử các chỉ thị, nghị quyết về KH&CN trong CAND từ năm 1981 đến năm 2010; tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan để khẳng định sự cần thiết và xác định phương hướng nghiên cứu của đề tài.
Chương 2. Cơ sở lí luận và thực tiễn cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở Bộ Công an
Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của khoa học, công nghệ, quản lý, QLNN và QLNN về KH&CN, nhấn mạnh tính phi kinh tế, tính bất định và tính linh hoạt trong quản lý hoạt động sáng tạo. Về thực tiễn, tác giả khảo sát và phân tích thực trạng QLNN về KH&CN ở Bộ Công an giai đoạn 2006-2013 dựa trên sơ đồ tổ chức bộ máy và hội đồng khoa học:
- Bộ máy quản lý còn phân tán giữa Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật và Viện Chiến lược và khoa học Công an, dẫn đến chồng chéo chức năng.
- Công tác lập kế hoạch nhiệm vụ KH&CN còn bị động theo chu kỳ tài chính hàng năm, thiếu quy hoạch dài hạn.
- Khâu xét chọn và nghiệm thu đề tài sử dụng các phiếu điểm đánh giá (Bảng 2: Phiếu điểm đánh giá xét chọn đề tài; Bảng 2: Phiếu điểm đánh giá nghiệm thu đề tài) còn mang tính định tính, hình thức, chưa phân loại rõ theo tính chất đề tài cơ bản hay ứng dụng.
- Cơ chế tài chính thanh quyết toán phức tạp, thanh toán theo số lượng chuyên đề viết sẵn thay vì định mức ngày công lao động khoa học thực tế, thiếu các khoản mục chi phục vụ ứng dụng và thuê chuyên gia ngoài.
- Dữ liệu thông tin nhiệm vụ và chuyên gia chưa được tích hợp dùng chung, quy trình theo dõi tiến độ chủ yếu xử lý qua văn bản giấy tờ thủ công.
Chương 3. Giải pháp cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở Bộ Công an
Chương 3 xây dựng 3 quan điểm chung, 3 quan điểm cụ thể và mục tiêu CCHC đến năm 2020. Tác giả luận giải 6 nhóm giải pháp thực hiện:
- Thống nhất đầu mối cơ quan QLNN về KH&CN trong toàn bộ lực lượng CAND nhằm xóa bỏ sự phân tán chức năng.
- Tăng cường năng lực quản lý vĩ mô, chuẩn hóa và công khai hóa toàn bộ bộ thủ tục hành chính trong quy trình quản lý nhiệm vụ KH&CN.
- Chuyển phương thức lập kế hoạch từ giao chỉ tiêu hàng năm sang lập kế hoạch gián tiếp dựa trên định hướng ưu tiên chiến lược và cơ chế Quỹ KH&CN.
- Cải tiến mẫu Thuyết minh đề tài (sửa đổi quy định tại Thông tư 11/2012/TT-BCA); áp dụng khung logic vào quy trình chấm điểm xét chọn và nghiệm thu.
- Cải cách tài chính: Chuyển sang định mức chi trả theo công lao động khoa học; bổ sung các danh mục chi mới (thuê chuyên gia ngoài ngành/nước ngoài, dịch vụ khoa học, đăng ký sở hữu trí tuệ, chi triển khai ứng dụng kết quả sau nghiệm thu, dự phòng phí); áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; thành lập Quỹ KH&CN trong CAND.
- Xây dựng mạng lưới thông tin KH&CN dùng chung kết nối khối Khoa học - Giáo dục - Nghiên cứu và Sản xuất; xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) nhiệm vụ nghiên cứu và CSDL nhà khoa học; ứng dụng công nghệ thông tin thông qua triển khai phần mềm quản lý nhiệm vụ KH&CN CAND với các mô đun chức năng: quản lý thực hiện, tìm kiếm, báo cáo, xét duyệt, hội đồng khoa học và thống kê (Hình 3: Menu chức năng, Giao diện tổng thể, Thuyết minh, Xét duyệt, CSDL nhà khoa học).
Chương 4. Kiểm tra kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 4 trình bày phương pháp và kết quả kiểm định tính đúng đắn, khả thi của các giải pháp đề xuất:
- Sử dụng phương pháp chuyên gia lấy ý kiến (Bảng 4: Bảng xin ý kiến chuyên gia; Bảng 4: Quy ước xếp hạng theo trọng số các chuyên gia; Bảng 4: Bảng thứ tự đánh giá của các chuyên gia).
- Xử lý các luồng ý kiến phản biện bằng phương pháp Delphi nhằm đạt được sự đồng thuận khoa học đối với hệ thống 6 giải pháp.
- Bàn luận về tính tương thích giữa các đề xuất của luận án với các quy định mới của Luật KH&CN năm 2013 và điều kiện đặc thù của lực lượng vũ trang nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm công cụ "CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an", tạo cơ sở nhận thức thống nhất cho việc đổi mới phương thức quản lý khoa học trong lực lượng CAND.
- Phân tích và hệ thống hóa 10 đặc điểm của nghiên cứu khoa học gắn với tính chất bảo đảm an ninh trật tự, từ đó xác lập 3 quan điểm chỉ đạo chung và 3 quan điểm cụ thể về CCHC trong quản lý nghiên cứu ngành Công an.
Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá có hệ thống thực trạng công tác QLNN về KH&CN tại Bộ Công an trong giai đoạn 2006-2013, chỉ rõ 6 nhóm tồn tại: cơ cấu tổ chức phân tán, lập kế hoạch thụ động, đánh giá xét chọn/nghiệm thu còn chung chung, cơ chế tài chính chưa phù hợp đặc thù lao động trí óc, thông tin KH&CN phân tán và quy trình quản lý thủ công.
- Đề xuất hệ thống 6 giải pháp CCHC khả thi:
- Kiện toàn, thống nhất một đầu mối cơ quan QLNN về KH&CN trực thuộc Bộ.
- Chuẩn hóa, công khai bộ thủ tục hành chính quản lý khoa học.
- Đổi mới phương thức kế hoạch hóa gián tiếp thông qua định hướng ưu tiên và cơ chế quỹ.
- Sửa đổi mẫu Thuyết minh đề tài (theo Thông tư 11/2012/TT-BCA) và áp dụng khung phân tích logic để đánh giá kết quả nghiên cứu.
- Đổi mới cơ chế tài chính: Tính toán thù lao theo ngày công lao động khoa học, bổ sung các danh mục chi mới (thuê chuyên gia nước ngoài, dịch vụ khoa học, sở hữu trí tuệ, hỗ trợ ứng dụng sau nghiên cứu, dự phòng phí), thực hiện cơ chế khoán chi và thành lập Quỹ KH&CN trong CAND.
- Xây dựng mạng thông tin KH&CN dùng chung kết nối Khoa học - Giáo dục - Sản xuất, thiết lập CSDL nhiệm vụ, CSDL chuyên gia và đưa vào vận hành phần mềm quản lý nhiệm vụ KH&CN trong CAND.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát phạm vi hoạt động R&D sử dụng nguồn ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2006-2013 tại các đơn vị quản lý chuyên trách (Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Viện Chiến lược và khoa học Công an) và một số Học viện, Nhà trường CAND; chưa mở rộng đánh giá chi tiết toàn bộ các nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học khác tại Công an tất cả các địa phương.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án định hướng việc tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của phần mềm quản lý nhiệm vụ KH&CN sau khi triển khai diện rộng; nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Công an với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Quốc phòng trong việc chia sẻ CSDL chuyên gia và công nhận kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật nghiệp vụ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và hoạt động chuyên môn sau:
- Học viên, nghiên cứu sinh, giảng viên các chuyên ngành Quản lý công, Quản lý KH&CN, Quản lý nhà nước: Tham khảo khung lý thuyết về 10 đặc tính của nghiên cứu khoa học, 4 thành tố công nghệ của Naware Sharif, mô hình phân kỳ quan hệ KH&CN của Kedrov và phương pháp luận thiết kế CCHC trong tổ chức hành chính nhà nước.
- Cơ quan tham mưu, quản lý KH&CN của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành: Sử dụng làm tài liệu đối chiếu khi xây dựng quy chế quản lý nhiệm vụ khoa học, cải tiến mẫu biểu thuyết minh, xây dựng tiêu chí đánh giá nghiệm thu theo khung logic, triển khai cơ chế khoán chi theo ngày công và ứng dụng phần mềm tin học hóa quy trình quản lý nhiệm vụ.
Câu hỏi thường gặp
Luận án phân loại các mô hình quản lý KH&CN trên thế giới như thế nào?
Căn cứ vào nghiên cứu của Nguyễn Sỹ Lộc [56], luận án chỉ ra 4 mô hình: mô hình quản lý tập trung cao độ (Liên Xô cũ); mô hình phân tán đa nguyên (Mỹ, Anh, Thụy Điển, Đan Mạch); mô hình tập trung điều tiết hài hòa (Pháp, Nhật Bản); mô hình tập trung kết hợp phân tán kiểu hỗn hợp (Hàn Quốc, Đài Loan).
Mẫu Thuyết minh đề tài nghiên cứu KH&CN trong CAND chịu sự điều chỉnh của văn bản nào tại thời điểm nghiên cứu và được đề xuất sửa đổi ra sao?
Tại thời điểm nghiên cứu, mẫu Thuyết minh đề tài được áp dụng theo quy định tại Thông tư số 11/2012/TT-BCA của Bộ Công an. Luận án đề xuất cấu trúc lại biểu mẫu này gắn với khung logic nhằm làm rõ mục tiêu, sản phẩm cụ thể, phương pháp thực hiện và định mức công lao động khoa học thay vì liệt kê chung chung.
Những khoản mục chi tài chính mới nào được luận án đề xuất bổ sung cho công tác nghiên cứu khoa học trong Bộ Công an?
Luận án đề xuất bổ sung các khoản mục chi gồm: chi thuê chuyên gia ngoài ngành hoặc chuyên gia nước ngoài, chi dịch vụ khoa học, chi đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ, chi hỗ trợ triển khai ứng dụng kết quả sau nghiên cứu và dự phòng phí trong quá trình thực hiện đề tài.
Hệ thống phần mềm quản lý nhiệm vụ KH&CN trong CAND do luận án giới thiệu gồm những phân hệ chức năng nào?
Phần mềm được thiết kế gồm các phân hệ chính: Quản lý thực hiện đề tài, Thuyết minh đề tài, Xét duyệt đề tài, Quản lý hội đồng xét duyệt, CSDL nhà khoa học và chuyên gia, Tìm kiếm đề tài, Báo cáo và Thống kê tổng hợp.
Công cụ nào được tác giả sử dụng để xử lý dữ liệu điều tra và kiểm tra kết quả nghiên cứu?
Dữ liệu điều tra định lượng được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS; dữ liệu định tính được phân loại và tổng hợp bằng Microsoft Excel; việc kiểm tra độ tin cậy của các giải pháp được thực hiện qua phương pháp chuyên gia và kỹ thuật Delphi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Minh Huệ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác QLNN về KH&CN tại Bộ Công an giai đoạn 2006-2013. Bằng việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội, phương pháp chuyên gia Delphi và xử lý dữ liệu qua SPSS và Excel, luận án đã đề xuất 6 nhóm giải pháp CCHC đồng bộ từ kiện toàn tổ chức, đổi mới lập kế hoạch, chuẩn hóa thủ tục, cải cách tài chính đến ứng dụng phần mềm CNTT. Công trình cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác đổi mới quản lý KH&CN trong lực lượng CAND đến năm 2020.