PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Hiện nay, trong quá trình kinh tế hội nhập, NNL là nhân tố đặc biệt có vai trò quyết định đến đối với sự tăng trƣởng và phát triển của nền kinh tế. Thực tiễn và kinh nghiệm chỉ ra rằng, sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia hay mỗi doanh nghiệp đều phụ thuộc vào chính sách phát triển NNL của bất kỳ quốc gia hay doanh nghiệp đó. NNL trực tiếp tham gia hoạch định chiến lƣợc, kế hoạch, dự án, xây dựng các quy trình nghiệp vụ, các quy tắc ứng xử, là nền tảng định hƣớng cho toàn bộ các hoạt động , trong ngân hàng thƣơng mại.
NNL là chủ thể vận hành hệ thống, quản lý cơ sở hạ tầng công nghệ, thực hiện các kế hoạch theo quy trình cố định; làm việc với cơ quan nhà nƣớc, đối tác và khách hàng, giao tiếp với đồng nghiệp, quản lý dòng tiền và các nguồn lực khác thuộc trách nhiệm của NHTM. NNL là nơi thích hợp để nảy sinh các ý tƣởng, sáng kiến mới nhằm cải tiến quy trình nghiệp vụ, từ đó nâng cao hiệu suất hệ thống, tiết kiệm chi phí và giảm thiểu rủi ro cho NHTM; là năng lƣợng để từng bƣớc kết tinh các giá trị văn hóa doanh nghiệp, bản sắc văn hóa, xây dựng và giữ vững thƣơng hiệu của NHTM. NNL có khả năng huy động tuân thủ chính sách phát triển cá nhân của tổ chức, không ngừng thay đổi để thích ứng với môi trƣờng mới, công nghệ mới, chuyên sâu hơn, là nơi đào tạo ra những con ngƣời ƣu tú, những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tài chính, kế thừa sự phát triển bền vững của các NHTM. Tuy nhiên, NNL phát huy đƣợc vai trò của nó không phải ở ƣu thế về số lƣợng mà là ở chất lƣợng.
Khi NNL có quy mô lớn nhƣng chất lƣợng thấp, năng suất lao động thấp thì lại trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải thƣờng xuyên NCCLNNL để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế nói chung, của doanh nghiệp và của ngành ngân hàng nói riêng. Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trƣờng, công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nƣớc, cầu nối nền tài chính quốc gia 1 với nền tài chính quốc tế. Các NHTM nhất là các Ngân hàng đóng trên địa bàn Đồng Tháp đã phải xác định rõ định hƣớng và chiến lƣợc kinh doanh của mỗi Ngân hàng.
Để tồn tại và phát triển bền vững, các ngân hàng cần phát huy tối đa chất lƣợng của con ngƣời trong hoạt động của mình. Agribank CN tỉnh Đồng Tháp là một trong bốn Ngân hàng lớn trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Để đạt đƣợc mục tiêu nâng cao chất lƣợng hoạt động và hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh cách mạng Công nghiệp 4.0 ngày càng đƣợc cải thiện, nhất là trong tình hình cạnh tranh, hội nhập gay gắt, chất lƣợng dịch vụ khu vực và toàn cầu của tƣ nhân và nƣớc ngoài. Trong định hƣớng kinh doanh của mình, Agribank CN tỉnh Đồng Tháp luôn coi trọng yếu tố con ngƣời, đặc biệt trong những năm gần đây nhân sự phải thƣờng xuyên thay đổi, một số cán bộ chủ chốt đến tuổi hƣu, cán bộ trẻ kế thừa - thay thế, còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế, một số cán bộ còn tình trạng chạy theo lợi nhuận, lợi ích trƣớc mắt đã dẫn đến gia tăng rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh, suy giảm tài chính của cả hệ thống Agribank.
Vì vậy, việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là một việc hết sức cần thiết. Để có cơ sở phân tích và hiểu rõ hơn về những vấn đề trên, việc lựa chọn và đƣa ra một đề tài nghiên cứu là hết sức cần thiết. Do đó “Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp ” của tác giả là chủ đề nghiên cứu nhầm đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ của Agribank CN tỉnh Đồng Tháp. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, kể từ những năm ở thập niên 1990 trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực một cách có hệ thống, nhất là , ở Mỹ, Châu Âu và một số nƣớc phát triển nhƣ Anh, Canađa, Úc… Tiêu biểu nhất là các nghiên cứu dƣới đây: - Đại học Nelson Mandela Metropolitan đã công bố công trình nghiên cứu về khái niệm, nội dung của phát triển nguồn nhân lực trên tạp chí Human Resource Development , International (Kristine Sydhagen và Peter Cunningham, 2007). Tác giả Abdullsh Haslinda 2 (2009) cũng làm rõ khái niệm, mục đích và chức năng phát triển NNL. Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã tổng hợp lý thuyết và thực tiễn khái niệm, quan điểm về phát triển, NNL ở các phạm vi, góc độ khác nhau từ các nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới đã công bố. - Social Networks as a Conceptual and Empirical Tool to Understand and „Do‟ HRD (Mạng xã hội là công cụ khái niệm và thực nghiệm để hiểu và làm Phát triển NNL (Julia Storberg và Walker Claire Gubbins , 2007), nghiên cứu về mối quan hệ xã hội của con ngƣời với phát triển NNL đã đƣa ra nội dung của phát triển NNL ở các phạm vi khác , nhau có tính đến những liên kết, quan hệ đan xen các đơn vị trong tổ chức và giữa tổ chức với xã hội bên ngoài.2 Tình hình nghiên cứu trong nước.
Phát triển Giáo dục và đào tạo NNL, nhân tài, một số kinh nghiệm thế giới, NXB , Chính trị quốc gia, Hà Nội (Tạ Ngọc Tấn, 2012). Trong cuốn sách các tác giả đã phân tích khá sâu sắc những vấn đề cơ bản về NNL, nhân tài và phát triển giáo dục và đào tạo NNL, nhân tài của một số nƣớc trên thế giới, rút ra những kinh nghiệm bổ ích đối với Việt Nam trong thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo để phát triển nguồn nhân lực, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triên kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, chất lƣợng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nƣớc, (Phan Thanh Khôi, Nguyễn Văn Sơn, 2011), Tạp chí Tuyên giáo số 7/2011. Các , tác giả đã khẳng định vai trò của trí thức - lực lƣợng sáng tạo đặc biệt quan trọng có vai , trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc.
Từ đó đƣa ra những quan điểm mang tính giải pháp cơ bản nhất để xây dựng đội ngũ trí thức. Phát triển NNLCLC để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri , thức, (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2010). Đề tài đã tập trung làm rõ lý luận về NNLCLC và CNH, HĐH gắn với nền kinh tế tri thức; bên cạnh đó tìm , hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển NNLCLC và thực trạng NNLCLC của Việt Nam , hiện nay và những vấn đề đặt ra. Từ đó, đề tài chỉ ra xu hƣớng phát triển NNLCLC, đồng , thời đƣa ra những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực nàyđáp ứng yêu cầu đẩy mạnh , , CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức của đất nƣớc Việt Nam.
, 3 Những vấn đề đặt ra cho phát triển NNLCLC cao ở nƣớc ta hiện nay, Phát triển , NNL đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, (Phan Quốc Trung, Đỗ Quang Dũng, 2012). Tác giả đã trình bày những yếu kém bất cập về phát triển NNLCLC ở nƣớc ta hiện nay: Mất cân đối rất lớn giữa cung và cầu lao động chất lƣợng cao; Chất lƣợng thực , , , của NNLCLC còn thấp; Phân bố NNLCLC còn mất cân đối; Chính sách tiền công và hệ , thống các công cụ của thị trƣờng lao động chất lƣợng cao còn nhiều bất cập; Quản lý nhà , , , nƣớc đối với NNLCLC chƣa đƣợc quan tâm sát sao và bộc lộ nhiều yếu kém. , , Phát triển NNL các NHTM Việt Nam (Phan Huy Đƣờng-Nguyễn Văn Lành, 2021). Tác giả đã đƣa ra một số chất lƣợng nhân lực vẫn còn hạn chế, một số NHTM phải đào tạo lại sau tuyển dụng, tính chuyên nghiệp của ngƣời lao động ở một số vị trí công , , , việc chƣa đạt kết quả cao.
Một số NHTM thiếu đội ngũ quản trị điều hành, có khả năng phân tích, có trình độ chuyên môn, độc lập xử lý các vấn đề của thực tế, tổng hợp, am hiểu luật pháp và linh hoạt; thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn cao về quản trị ngân hàng , , hiện đại, kiểm soát và kiểm toán nội bộ, phân tích tài chính, phân tích và thẩm định dự án , , đầu tƣ, quản trị rủi ro… Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là: Thiếu Bộ tiêu chuẩn , nghề nghiệp cho các vị trí công việc trong ngành, quy hoạch phát triển nhân lực, Chiến lƣợc nhân sự trong từng NHTM…; Chính sách đãi ngộ, tuyển dụng, đào tạo bồi dƣỡng phát triển,… chƣa đầy đủ hoặc chƣa thật phù hợp; Chất lƣợng đào tạo cử nhân NHTM - , tài chính chƣa đáp ứng đƣợc kỳ vọng của các nhà tuyển dụng NHTM. Phát triển NNLCLC đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức. Đề tài đã tập trung làm rõ lý luận về NNLCLC và CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức; bên cạnh đó tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển NNLCLC và thực trạng NNLCLC của Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra. Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra xu hƣớng phát triển NNLCLC, đồng thời, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức của Việt Nam.
1 1 1 1 1 1 Tóm lại, cho tới nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về NNL, nhƣng đa phần các nghiên cứu này chỉ đề cập tới một số khía cạnh liên quan nhƣ lao động, thu nhập, và đào tạo của một thị trƣờng lao động chung cho tất cả các ngành nghề. Chƣa có một công trình nghiên cứu nào mang tính toàn diện và có hệ thống về NCCLNNL Agribank CN 4 tỉnh Đồng Tháp.