Chương 1, tác giả thảo luận chủ yếu về mục đích nghiên cứu của đề tài. Đề tài cũng mô tả đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tác giả tiếp tục nghiên cứu lý thuyết về quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Rủi ro hoạt động không chỉ gây ra tổn thất về vật chất, uy tín và con người mà còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Do đó, quản trị tốt rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là yêu cầu rất quan trọng và cần được nghiên cứu. Hiện nay, nhiều NHTM Việt Nam đã nghiên cứu và quan tâm triển khai công tác này trong vài năm trở lại đây, điển hình như Vietinbank, BIDV, Vietcombank, MB, VIB… Tuy nhiên, do đánh giá chưa toàn diện về vai trò của công tác này, quản trị rủi ro hoạt động tại các NHTM Việt Nam vẫn còn những hạn chế cần được xem xét cải thiện. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết quản trị rủi ro hoạt động 2.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro hoạt động Rủi ro được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Bessis (2019) cho rằng: Rủi ro là những điều không chắc chắn của tương lai.
Với định nghĩa này, rủi ro là sự không chắc chắn về những tổn thất xảy ra trong tương lai. Theo từ điển trong kinh doanh, rủi ro là xác suất gặp nguy hiểm từ bất kì một sự cố tiêu cực nào như bị thương, mất mát, trách nhiệm pháp lý hay bất kì sự tiêu cực xảy ra do tác động của các yếu tố gây nguy hiểm từ bên trong hoặc bên ngoài gây nên và điều này có thể phòng ngừa và hạn chế được bằng những dự tính từ trước. Có thể thấy, thật khó có thể đưa ra định nghĩa chung về rủi ro. Tuy nhiên, các quan điểm đều đưa ra nội hàm chung về rủi ro như sau: Rủi ro là khả năng xảy ra kết quả không mong đợi, là nguyên nhân gây ra những tổn thất do hậu quả của một quá trình trong hiện tại hoặc một sự việc trong tương lai.
Những tổn thất thường liên quan đến tiền bạc - mất khách hàng, mất danh tiếng, mất quyền tự do kinh doanh - tất cả đều ảnh hưởng đến khả năng kiếm tiền. Do đó, tiền mặt là đơn vị tiền tệ phổ biến trong QTRR tài chính. Trong thông tư 13/2018/TT-NHNN, NHNN đưa ra định nghĩa về rủi ro đối với NHTM, cụ thể: Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đối với các tổ chức trung gian tài chính, rủi ro là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh bởi họ không thể tồn tại nếu như không chấp nhận rủi ro.
Hoạt động của NHTM cũng như bất kì chủ thể trung gian tài chính nào trong nền kinh tế luôn chứa rủi ro. Bên cạnh đó, NHTM còn phải đối mặt với các rủi ro mang tính đặc thù do bản chất ngành tạo ra, trong đó có Rủi ro hoạt động (RRHĐ). Rủi ro hoạt động là là loại rủi ro vốn có của các NHTM. Có thể nói, RRHĐ là rủi ro tiềm ẩn lớn nhất của các NHTM liên quan đến toàn bộ các bộ phận của NHTM, có tính lan toả, xen kẽ trong các loại rủi ro khác, gây ra tổn 7 thất tài chính và phi tài chính nghiêm trọng.
Chính bởi vậy, việc QTRRHĐ để có bước điều chỉnh, giảm thiểu nguy cơ đe doạ cũng như tối đa hoá lợi ích là bước đi tất yếu của quản trị ngân hàng hiện đại. Trong thông tư số 41/2016/TT-NHNN, NHNN đưa ra định nghĩa về rủi ro hoạt động đối với NHTM, cụ thể: Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý). Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược. Định nghĩa của NHNN về RRHĐ là rủi ro gây ra tổn thất về tài chính và phi tài chính do con người, sự cố hệ thống, quy trình và các sự ki ện bên ngoài gây ra.2 Quản trị rủi ro hoạt động Quản trị rủi ro (QTRR) được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
QTRR là một quá trình để đảm bảo sự kiện không mong muốn không xảy ra. Để đạt hiệu quả trong QTRR, NHTM cần có sự hiểu biết sâu sắc về những rủi ro đang xảy ra, định nghĩa toàn diện về KVRR, cho phép các cơ hội được khai thác theo KVRR nhưng cần đảm bảo rằng các rủi ro bên ngoài không được thực hiện. Như vậy, thiết yếu NHTM cần tập trung vào ba khâu để nâng cao hiệu quả QTRR, đó chính là: nhận diện và đo lường rủi ro, văn hoá QTRR để đảm bảo quy trình được thực hiện và hành động khi được yêu cầu. Bessis (2019) định nghĩa QTRR là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát và phòng ngừa, giảm thiểu những tổn thất, mất mát và ảnh hưởng mà rủi ro mang lại.
Tô Thị Ánh Dương (2021) đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về QTRR. QTRR là quá trình xác định và giảm thiểu sự không chắc chắn trong các quyết định liên quan đến đầu tư và kiểm soát các mối đe dọa đối với vốn và thu nhập của tổ chức. Bên cạnh đó, QTRR hiệu quả chính là giảm thiểu nguy cơ ảnh hưởng đến vốn và thu nhập. Theo thông tư số 18/2018/TT-NHNN định nghĩa: QTRR là việc nhận dạng, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro trong hoạt động của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
8 Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về QTRR, tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều đưa ra quan điểm chung về QTRR. Trong đó, QTRR là quá trình xác định và kiểm soát các sự kiện không mong muốn xảy ra nhằ m giảm thiểu những tổn thất và tận dụng được cơ hội mà rủi ro mang lại. QTRR đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định chiến lược bằng cách biết những mối đe dọa tiềm ẩn nào có thể khiến hoạt động kinh doanh bị trì hoãn, gián đoạn. Bên cạnh đó, QTRR giúp NHTM xác định các cơ hội và liệu chúng có đáng để theo đuổi hay không.
Quan điểm kinh doanh ngân hàng hiện đại đánh giá cao vai trò của QTRR đối với sự phát triển bền vững của bất kỳ NHTM nào, đặc biệt là QTRRHĐ bởi đây là loại rủi ro tồn tại trong tất cả hoạt động, chức năng nghiệp vụ của NHTM (Nguyễn Thị Thanh Hải, 2020). QTRRHĐ là toàn bộ quá trình nhận diện, đánh giá, kiểm soát, giám sát và báo cáo RRHĐ một cách liên tục nhằm giảm thiểu tổn thất phát sinh trong quá trình hoạt động và đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục của ngân hàng”. Như vậy, QTRRHĐ được hiểu là quá trình NHTM thực hiện các hoạt động nhằm giảm thiểu RRHĐ và tổn thất RRHĐ, đảm bảo kinh doanh liên tục của NHTM bao gồm việc xây dựng chính sách, quy định, văn bản hướng dẫn QTRRHĐ; thiết lập cơ cấu tổ chức; xây dựng và triển khai quy trình QTRRHĐ. QTRRHĐ hiệu quả, các mục tiêu của NHTM như tính hiệu quả và hiệu năng của NHTM, hoạt động kinh doanh liên tục, sự an toàn đối với tài sản cũng như đảm bảo uy tín, danh tiếng cho ngân hàng… mới có thể đạt được.
Ngô Quỳnh Trang (2023) cho rằng QTRRHĐ hiệu quả là sự phản ánh sự thành công của HĐQT và BLĐ trong việc quản lý danh mục sản phẩm, dịch vụ và hoạt động.3 Đặc điểm và vai trò quản trị rủi ro hoạt động RRHĐ có thể tồn tại trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các rủi ro khác. Chính bởi vậy, QTRRHĐ có những đặc điểm đặc thù riêng. Thứ nhất, QTRRHĐ là hoạt động thường xuyên, liên tục trong tất cả các sản phẩm, dịch vụ; quy trình nghiệp vụ và hệ thống của NHTM. RRHĐ tồn tại trong toàn bộ các hoạt động của NHTM.
Chính vì vậy, QTRRHĐ cần được thực hiện một cách liên tục từ việc nhận diện và đánh giá, đo lường đến việc 9 theo dõi, kiểm soát và báo cáo nhằm phát hiện kịp thời RRHĐ, giảm thiểu mức độ tác động của RRHĐ và duy trì sự liên tục trong hoạt động kinh doanh. Thứ hai, việc QTRRHĐ kém hiệu quả dẫn đến cả tổn thất tài chính và tổn thất phi tài chính. RRHĐ có thể dẫn đến các tổn thất về tài chính (sự mất mát tài sản, bị phạt do trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý.) và các tổn thất phi tài chính (thiệt hại uy tín, hoạt động bị gián đoạn, bị giám sát đặc biệt, đánh mất khách hàng…). Chính bởi vậy, vì sự phát triển bền vững, NHTM tất yếu phải xây dựng được hệ thống QTRRHĐ hiệu quả.
Thứ ba, QTRRHĐ phải được xem xét cả trong nội bộ ngân hàng lẫn các yếu tố bên ngoài ngân hàng. Nếu như các loại rủi ro khác chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân bên ngoài như rủi ro tín dụng (người vay không có khả năng trả nợ), rủi ro thị trường (giá cả thị trường biến động), rủi ro lãi suất (sự biến động của lãi suất), rủi ro ngoại hối (sự thay đổi của tỷ giá)… thì RRHĐ xuất phát từ cả nguyên nhân bên trong và bên ngoài (con người, quy trình và các sự kiện bên ngoài). Trong đó, nguyên nhân bên trong NHTM là chủ yếu. Việc xác định nguyên nhân cực kỳ quan trọng đối với QTRRHĐ bởi không phải là ảnh hưởng mà chính là nguyên nhân của sự kiện tổn thất quyết định đó có phải là một sự kiện tổn thất từ RRHĐ hay không.
Chính bởi đặc điểm lan toả, xen kẽ, khó xác định và tổn thất nghiêm trọng của RRHĐ, QTRRHĐ trở thành vấn đề cấp thiết đối với bất kỳ NHTM nào. QTRRHĐ tốt không chỉ giúp NHTM kiểm soát được RRHĐ mà còn tạo được niềm tin cho khách hàng, đối tác và các bên liên quan. Đây chính là nền tảng để NHTM đạt được các mục tiêu, chiến lược kinh doanh đã đặt ra. Hay nói cách khác, để NHTM phát triển bền vững, tất yếu phải QTRRHĐ một cách hiệu quả.