Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này, tác giả trình bày lý do, mục tiêu, pham vi, đối tượng, ý nghĩa và cấu trúc của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này, tác giả dựa vào cơ sở lý thuyết từ đó xây dưng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này, tác giả trình bày các phương pháp nghiên cứu gồm thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và điều chỉnh thang đo để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày cụ thể các phương pháp phân tích và kết quả đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng tín dụng.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này, tác giả tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, đề xuất hàm ý chính sách và những đóng góp cũng như những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết nền tảng liên quan 2.1 Khái niệm tín dụng Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay.
Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay (Lê Thanh Điền, 2020). Đây chính là quan hệ tín dụng. Thuật ngữ “Tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh cổ là “Creditum”, có nghĩa là sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội, ngày nay tín dụng được hiểu theo những quan niệm cơ bản sau: Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả.
Tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ sử dụng vốn của nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế. Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận. Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai (Dương Thị Hoàn, 2019). Như vậy, nghĩa của tín dụng có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng nội dung cơ bản của những định nghĩa này đều phản ánh: một bên là người cho vay và bên kia là người đi vay.
Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại. Việc chuyển giao giá trị hay hiện vật giữa người đi vay và người cho vay có kỳ chuyển giao ngược lại. Lượng giá trị hay hiện vật khi người đi vay hoàn trả cho người cho vay phải lớn hơn lượng họ nhận được ban đầu, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức cho người cho vay. Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường đã và đang tồn tại nhiều hình thức tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng và các hình thức tín dụng kết hợp khác.
Tuy nhiên tín dụng ngân hàng với các đặc trưng riêng vẫn được coi là hình thức tín dụng cơ bản và giữ vai trò quan trọng nhất trong hệ thống tín dụng. Trước tiên cần làm rõ khái niệm cấp tín dụng hiện nay. Cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng bằng các nghiệp vụ như: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, phát hành thẻ tín dụng, bảo lãnh ngân hàng (Tô Kim Ngọc, Nguyễn Thanh Nhàn, 2018). Từ những nội dung trình bày ở trên, theo quan điểm của tác giả, tín dụng ngân hàng được hiểu như sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển nhượng cho khách hàng quyền sử dụng một lượng giá trị (dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (Chính phủ, 2018).3 Đặc điểm chủ yếu của tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội Tín dụng ngân hàng có một số đặc điểm sau: Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn. Thứ hai: Tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Thứ ba: Tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả.
Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị gốc cho vay, nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh hoạt động kinh doanh ngân hàng. Thứ tư: Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào 10 môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai.khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Thứ năm: Tín dụng ngân hàng trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Quá trình cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo lãnh. trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Thứ sáu: Cho vay có mục đích. Mục đích đi vay được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng như: phục vụ hoạt động SXKD hay đầu tư dự án hoặc cho tiêu dùng đảm bảo cho NH không tài trợ cho các hoạt động trái luật pháp và quan trọng hơn mục đích đi vay đó đã được NHTM thẩm định và NHTM cho rằng khách hàng sử dụng vốn đi vay đúng mục đích thì sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đúng kỳ hạn.
Thứ bảy: Vay phải có bảo đảm theo quy định. Bảo đảm tín dụng là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. NHTM coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không thể thanh toán được nợ. Trong kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến NH không thu được nguồn thu nợ thứ nhất vì vậy cần có điều kiện bảo đảm tín dụng để hạn chế tổn thất cho NH trong tương lai (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2016).
Bản chất của tín dụng ngân hàng được diễn đạt bằng nhiều cách, nhưng đều đề cập đến mối quan hệ, một bên là người cho vay là các NHTM và một bên là người đi vay. Trong mối quan hệ này nó được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, chính sách lãi suất và pháp luật hiện hành. Sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác.4 Phân loại tín dụng ngân hàng Việc xác định chính xác và phân loại mục đích vay, sử dụng vốn vay của khách hàng rất quan trọng đối với ngân hàng trong việc quản lý chất lượng tín dụng. Dựa trên cơ cấu của các lĩnh vực vay khác nhau, ngân hàng sẽ cân đối và phân bổ hợp lý các nguồn vốn của ngân hàng vào các lĩnh vực được Nhà nước 11 khuyến khích phát triển, ít rủi ro và mang lại lợi nhuận tốt cho ngân hàng.
Các hình thức phân chia tín dụng ngân hàng gồm có các loại sau: a. Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng Quy mô của các khoản tín dụng theo thời hạn của ngân hàng phải cân đối và phù hợp với quy mô và thời hạn của nguồn vốn huy động. Việc phân loại theo thời hạn vay sẽ giúp ngân hàng có thể điều chỉnh theo hướng siết chặt hoặc mở rộng quy mô của các kỳ hạn vay khác nhau. Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng, ngân hàng phân loại các khoản cho vay thành 03 loại, cụ thể: - Tín dụng ngắn hạn: là hoạt động tín dụng có thời hạn dưới 1 năm được sử dụng để: bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, ứng trước tiền hàng, duy trì hàng tồn kho; phục vụ nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình.
Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được rủi ro về lãi suất, lạm phát nên lãi suất TD ngắn hạn thấp hơn các loại khác - Tín dụng trung hạn: là hoạt động tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư trang thiết bị máy móc, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đó, nó còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp. - Tín dụng dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn vay trên 5 năm.