Chương 1 đã tổng quan những vấn đề như lý do nghiên cứu, mục tiêu đặt ra trong là gì, những câu hỏi nghiên cứu, đối tượng được nghiên cứu là ai, phạm vi được giới hạn trong nghiên cứu, phương pháp được sử dụng nghiên cứu, nghiên cứu này mang lại ý nghĩa gì và cấu trúc của bài. Những nội dung về cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu liên quan, mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu được thể hiện trong chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2.
Dịch vụ Có rất nhiều cách định nghĩa, khái niệm về dịch vụ từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng. Theo Điều 4, Luật giá năm 2012: “Dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Còn Từ điển tiếng Việt (2004) nêu rằng: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”. Bên cạnh đó, Philip Kotler (2011) định nghĩa rằng: “Dịch vụ là một hoạt động cung ứng nhằm trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể hoặc không gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. Ngoài ra, “Dịch vụ là một loại hàng hóa, nhưng là hàng hóa vô hình. Để có được các loại dịch vụ, người ta cũng hao phí sức lao động và mục đích của việc cung ứng dịch vụ cũng là nhằm thỏa mãn nhu cầu của người có nhu cầu về loại hình dịch vụ đó”, theo PSG. Ngô Tuấn Nghĩa và cộng sự (2019).
Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là kết quả của quá trình lao động, không có hình thức hữu hình mà được thể hiện thông qua các quá trình sản xuất và tiêu dùng đồng thời nhằm thỏa mãn mong muốn của khách hàng. Dịch vụ có những bản chất sau: − Bản chất của dịch vụ là quá trình các hoạt động và hành vi kinh doanh nhằm giải quyết quan hệ đối tác giữa công ty và khách hàng trên cơ sở các đặc điểm vô hình. − Dịch vụ gắn liền với hiệu suất, đó là giá cả và giá trị sử dụng được cung cấp cho khách hàng khi họ trải nghiệm. − Quá trình lao động tạo ra dịch vụ cho khách hàng diễn ra theo một quy trình theo thứ tự cụ thể, gồm nhiều giai đoạn, có thể sẽ có thêm các dịch vụ phụ.
9 Nhà nghiên cứu Sabine Moeller (2010) đã xác định bốn đặc điểm cơ bản của dịch vụ: vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời và dễ hư hỏng.1 cung cấp mô tả chi tiết về từng đặc điểm này. Các đặc điểm của dịch vụ Đặc điểm Áp dụng cho các đối Nội dung dịch vụ tượng của dịch vụ - Không có dạng vật chất và không sờ được. Nhà cung cấp buộc Tính vô - Hàng hóa là một vật, một thiết bị, một đồ phải đưa ra lời hứa hình vật; dịch vụ là sự cố gắng thực hiện, nỗ lực thực hiện, nó là vô của người cung cấp. - Khó khăn trong việc tiêu chuẩn hóa dịch Nguồn lực của khách vụ.
Tính hàng về bản chất là - Liên quan đến (1) kết quả, (2) hiệu suất không không đồng nhất vì sản xuất của các nhà sản xuất hoặc cá nhân đồng nhất chúng thuộc về chính khác nhau, (3) một khoảng thời gian nhất khách hàng. định hoặc (4) sự tham gia của khách hàng. - Sản xuất và tiêu dùng xảy ra đồng thời. - Nhà cung cấp dịch vụ chỉ có mặt khi khách Cần phải có nguồn lực Tính hàng yêu cầu dịch vụ.
của khách hàng để không thể - Dịch vụ sẽ được bán trước, sau đó được cung cấp dịch vụ và tách rời sản xuất và đồng thời sử dụng, trong khi phải có mặt để chuyển hàng hóa được sản xuất trước, tiếp đến đổi nguồn lực. được bán và sau đó được tiêu dùng. Sản phẩm dịch vụ sẽ Tính dễ - Dịch vụ thì không thể sửa chữa. không hoàn thành nếu hư hỏng - Dịch vụ không thể lưu kho hoặc dự trữ.
không có sự hợp tác của khách hàng. Nguồn: Sabine Moeller (2010) 2. Dịch vụ vận tải hành khách Tập đoàn Phương Trang – FUTA Group đang hoạt động kinh doanh tại Ninh Thuận các dịch vụ gồm vận tải hành khách xe khách (thuộc FUTA Bus Lines), xe buýt (thuộc FUTA City Bus) và vận tải hàng hóa (thuộc FUTA Express). Trong luận 10 văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về dịch vụ vận tải hành khách bằng xe khách của Công ty Cổ phần Xe khách Phương Trang (FUTA Bus Lines) và công ty này kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định.
Khái niệm Vận tải là một hoạt động có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của hàng hóa, hành khách từ nơi này đến nơi khác và bất kì thời gian nào (Nguyễn Ngọc Hoa kỳ, Lâm Ngọc Điệp, 2020). Theo Điều 3, Nghị định 86/2014/ND-CP: “Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hàng hóa, hành khách trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi; bao gồm kinh doanh vậnitải thu tiền trực tiếp và kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp”. Theo Điều 66, Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12, 2008: “Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô bao gồm kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt theo tuyến cố định, kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi, kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng và kinh doanh vận tải hành khách du lịch theo tuyến, chương trình. Trong đó, kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định có xác định bến đi, bến đến với lịch trình, hành trình nhất định”.
Tóm lại, vận tải hành khách là hoạt động vận tải do các doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh vận chuyển hành khách bằng các phương tiện như xe khách, xe buýt, xe taxi,… theo tuyến cố định hoặc không cố định, theo hợp đồng hoặc không theo hợp đồng với khách hàng. Điều kiện kinh doanh Doanh nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải bằng xe ô tô phải có đủ các điều kiện sau: − Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật. − Bảo đảm số lượng, chất lượng và niên hạn sử dụng của phương tiện phù hợp với hình thức kinh doanh; phương tiện kinh doanh vận tải phải gắn thiết bị giám sát hành trình của xe theo quy định của Chính phủ. − Bảo đảm số lượng lái xe, nhân viên phục vụ trên xe phù hợp với phương án kinh doanh và phải có hợp đồng lao động bằng văn bản; nhân viên phục vụ trên xe 11 phải được tập huấn nghiệp vụ kinh doanh vận tải, an toàn giao thông; không được sử dụng người lái xe đang trong thời kỳ bị cấm hành nghề theo quy định pháp lý.
− Người trực tiếp điều hành hoạt động vận tải của doanh nghiệp, hợp tác xã phải có trình độ chuyên môn về vận tải. − Có nơi đỗ xe phù hợp với quy mô của doanhinghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, bảo đảm yêu cầu về trật tự, an toàn, phòng, chống cháy nổ và vệ sinh môi trường. Quy định về người kinh doanh Theo Điều 68, Luật giao thông đường bộ (2008), người vận tải, người lái xe khách phải chấp hành các quy định sau đây: − Đón, trả hành khách đúng nơi quy định. − Không chở hành khách trên mui, trong khoang chở hành lý hoặc để hành khách đu, bám bên ngoài xe.
− Không chở hàng nguy hiểm, hàng có mùi hôi thối hoặc động vật, hàng hóa khác có tổn hại đến sức khỏe của hành khách. − Không chở hành khách, hành lý, hàng hóa vượt quá trọng tải, số người theo quy định. − Không để hàng hóa trong khoang chở hành khách; có biện pháp giữ gìn vệ sinh trong xe. Theo Điều 69 của Luật này, quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận chuyển hành khách được quy định như sau.
Người kinh doanh vận chuyển hành khách có các quyền sau đây: − Thu cước, phí vận tải; − Từ chối vận chuyển trước khi phương tiện rời bến xe, rời vị trí đón, trả hành khách theo hợp đồng vận chuyển những người đã có vé hoặc người trong danh sách hợp đồng có hành vi gây rối trật tự công cộng, gây cản trở công việc của người kinh doanh vận tải, ảnh hưởng đến sức khoẻ, tài sản của người khác, gian lận vé hoặc hành khách đang bị dịch bệnh nguy hiểm. Người kinh doanh vận tải hành khách có các nghĩa vụ sau đây: 12 − Thực hiện đầy đủ các cam kết về chất lượng vận tải, hợp đồng vận tải. − Mua bảo hiểm cho hành khách; phí bảo hiểm được tính vào giá vé hành khách. − Giao vé, chứng từ thu cước, phí vận tải cho hành khách.
− Bồi thường thiệt hại do người làm công, người đại diện gây ra trong khi thực hiện công việc được người kinh doanh vận tải giao. − Chịu trách nhiệm về hậu quả mà người làm công, người đại diện gây ra do thực hiện yêu cầu của người kinh doanh vận tải trái quy định của Luật này. Người lái xe và nhân viên phục vụ trên xe ô tô vận tải hành khách chịu trách nhiệm sau (Điều 70, Luật giao thông đường bộ, 2008): − Kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn của xe trước khi khởi hành. − Có thái độ văn minh, lịch sự, hướng dẫn hành khách ngồi đúng nơi quy định.
− Kiểm tra việc sắp xếp, chằng buộc hành lý, hàng hóa bảo đảm an toàn. − Có biện pháp bảo vệ tài sản, sức khỏe, tính mạng của hành khách đi xe, giữ gìn trật tự, vệ sinh trong xe. − Đóng cửa lên xuống của xe trước và trong khi xe chạy. Chất lượng dịch vụ Khái niệm chất lượng Theo Kotler và Keller (2011): “Chất lượng là tất cả các đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ có liên quan đến năng lực đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hoặc tiềm ẩn.
Một sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng khi nó đáp ứng hoặc vượt quá sự mong đợi của khách hàng”. Chất lượng có nhiều định nghĩa và ý nghĩa, những nhà nghiên cứu khác nhau sẽ giải thích nó khác nhau nhưng trong số các định nghĩa, có một số điểm tương đồng như sau (Syariful Mahsyar, Untung Surapati, 2020): (1) Chất lượng bao gồm những nỗ lực để đáp ứng hoặc vượt quá sự mong muốn của khách hàng. (2) Chất lượng bao gồm sản phẩm, dịch vụ, con người, quy trình và môi trường. (3) Chất lượng là một điều kiện luôn thay đổi.