LỜI MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là nước có lợi thế sản xuất chè, đây cũng là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta. Hiện nay, Việt Nam có 34 tỉnh, thành phố trồng chè, với diện tích lên đến 130 nghìn ha. Năng suất trung bình đạt 8 tấn/ha, sản lượng chè khô đạt 192 nghìn tấn.
Diện tích trồng chè tập trung chủ yếu ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, sau đó rải rác ở các khu vực như Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ. Theo thống kê, lượng chè Việt Nam được sản xuất ra đối với toàn thế giới đã vượt qua con số 4 triệu tấn để đạt tới mức 4. Trong đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có sản lượng chè sản xuất lớn xếp vị trí đứng thứ 5 các nước xuất khẩu chè lớn nhất toàn thế giới. Cùng với đó, thống kê cho thấy rằng phần lớn sản phẩm chè của các nước trên thế giới chủ yếu được sản xuất ra từ khu vực châu Á và chiếm 83% sản lượng chè của thế giới, tiếp theo sau là châu Phi chiếm 15% và đến Nam Mỹ chiếm 2,4%.
Về thị trường tiêu thụ chè của thế giới trong giai đoạn gần đây, nhập khẩu chè đen của thế giới ước tính đạt khoảng ở mức 1,15 triệu tấn, có thể thấy mức tăng trung bình là khoảng 0,6%/năm. Các nước nhập khẩu chè chính với sản lượng chè nhập khẩu tiêu thụ cao như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản… sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới. Ngành chè đã mở ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống người dân miền núi, giúp họ xóa nghèo, cải thiện được kinh tế gia đình và cả góp phần to lớn trong việc cải thiện kinh tế ở nhiều địa phương. Sản phẩm chè của Việt Nam đã xuất khẩu tới 74 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Pakistan là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Pakistan là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam. Trong năm 2020, xuất khẩu chè sang Pakistan đạt 43.357 tấn, tương đương 82,59 triệu USD, với giá trung bình 1. Tuy nhiên, thị phần chè Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Pakistan vẫn còn rất thấp, chỉ chiếm 1,23% tổng trị giá nhập khẩu năm 2023, vẫn còn rất thấp so với nhu cầu của thị trường, vì vậy cơ hội để tăng thị phần vẫn còn rất lớn để ngỏ. Mặc dù xuất khẩu chè tới Pakistan giữ vị trí dẫn đầu, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã sử dụng hóa chất để nhuộm chè màu xanh, gây ảnh hưởng đến uy tín và 10 thị phần của chè Việt Nam.
Pakistan cũng đã siết chặt kiểm tra chất lượng chè nhập khẩu từ Việt Nam. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣớng đến hoạt động xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan” nhằm xác định lại các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu chè Việt Nam sang Pakistan để giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao giá trị xuất khẩu, đề xuất giải pháp cho chính phủ nhằm hỗ trợ, đưa ra các chính sách nhằm giúp ngành phát triển bền vững hơn trong tương lai. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến dòng chảy xuất khẩu chè của Việt Nam sang các nước trên thế giới đặc biệt là Pakistan và ước tính tiềm năng xuất khẩu chè của Việt Nam tới các thị trường này.
Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách cho các nhà quản lý nhằm đẩy mạnh xuất khẩu chè Việt Nam sang Pakistan. Mục tiêu cụ thể Từ mục tiêu chung của bài nghiên cứu, năm mục tiêu cụ thể được xác định cần thực hiện để đạt được mục tiêu chung là: (1) Xây dựng nền tảng cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu (2) Xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu chè của Việt Nam (3) Ước tính tiềm năng xuất khẩu chè của Việt Nam tới các thị trường trên thế giới đặc biệt là xuất khẩu sang Pakistan (4) Đưa ra một số hàm ý chính sách cho các nhà quản lý từ kết quả nghiên cứu đạt được nhằm đẩy mạnh xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan III. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tƣợng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan và các nhân tố chính ảnh hưởng tới dòng chảy xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan thông qua mô hình trọng lực trong thương mại (Gravity model).
- Tên sản phẩm nghiên cứu là chè (Tea) có nguồn gốc từ cây chè (Camellia sinensis). Mã số sản phẩm nghiên cứu theo hệ số 2017 (HS17) là 0902. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về việc xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan. Số liệu thứ cấp về hoạt động xuất khẩu chè Việt Nam sang Pakistan.
- Về thời gian nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian, bài nghiên cứu sẽ phân tích dữ liệu liên quan từ năm 2015-2022. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cách tiếp cận Dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất và nguồn dữ liệu cho các biến quan sát, bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng với các mô hình: ước lượng bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Squares - OLS), hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model - FEM), hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model- REM) và những kiểm định phù hợp trên chương trình Stata để xác định sự phù hợp và mức độ tác động của các yếu tố lên xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường Pakistan. Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng Nghiên cứu định lượng là cơ sở để nhóm kiểm định mô hình đề xuất và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất khẩu chè sang Pakistan.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp. Các dữ liệu về: Kim ngạch xuất khẩu, tổng sản phẩm quốc nội, dân số được khai thác và tính toán từ Cơ sở Thống kê dữ liệu Thương mại tiêu dùng của Liên Hợp Quốc (UN Comtrade) và Cơ sở dữ liệu chỉ số phát triển thế giới (World development indicator) thuộc Ngân hàng thế giới (World Bank). Dữ liệu nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp. Các dữ liệu về: Kim ngạch xuất khẩu, tổng sản phẩm quốc nội, dân số được khai thác và tính toán từ Cơ sở Thống kê dữ liệu Thương mại tiêu dùng của Liên Hợp Quốc (UN Comtrade) và Cơ sở dữ liệu chỉ số phát triển thế giới (World development indicator) thuộc Ngân hàng thế giới (World Bank).
Tỷ giá hối đoái được tính toán từ WTO (https://trungtamwto.vn) và báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Về mặt lý luận: Kết quả và những kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình làm nghiên cứu sẽ trở thành cơ sở cho việc hoàn thiện và triển khai, tiến hành các hoạt 12 động nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng xuất khẩu chè sang Pakistan dễ dàng hơn. Từ đó, giúp doanh nghiệp nắm bắt và điều chỉnh sao cho phù hợp để kim ngạch xuất khẩu chè sang Pakistan ngày càng cao. Về mặt thực tiễn: Căn cứ vào kết quả phân tích từ các phiếu điều tra, khảo sát, bài nghiên cứu sẽ đề xuất một số quan điểm, chính sách và giải pháp thiết thực, phù hợp.
Nghiên cứu này giúp ước tính tiềm năng xuất khẩu chè và cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chè Việt Nam sang Pakistan.KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI Ngoài phần lời cảm ơn, lời cam đoan, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; cấu trúc của nghiên cứu được chia thành 4 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và các lý thuyết liên quan Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Đề xuất kiến nghị, giải pháp 13 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Tổng quan nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực trong đánh giá hoạt động xuất khẩu nông sản * Nghiên cứu trong nước Tác giả Nguyễn Viết Bằng và Lê Tấn Bửu (2018), với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản tại vùng đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện nhằm xác định và đo lường những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng. Nghiên cứu đã thu được kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 7 yếu tố: Đặc điểm thị trường nước ngoài, chiến lược marketing xuất khẩu, đặc điểm ngành thủy sản, đặc điểm thị trường trong nước, đặc điểm quản lý và đặc điểm và năng lực của doanh nghiệp; các yếu tố này có tác động cùng chiều đến kết quả xuất khẩu trong khi rào cản xuất khẩu lại có tác động ngược chiều với kết quả xuất khẩu ở mức ý nghĩa 5%, độ tin cậy 95%.
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp doanh nghiệp, các nhà làm chính sách và các nhà nghiên cứu hiểu và đánh giá được các yếu tố tác động đến kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp thủy sản hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các hàm ý nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Tác giả Trần Mai Phương Phạm Kiều Phương, Lê Ngọc Bảo Trân (2022) sử dụng mô hình trọng lực và phương pháp hồi quy như pooled OLS, REM, FEM để đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường EU. Với dữ liệu thu thập được trong 14 năm từ 2006 đến 2020, mô hình đã thu được kết quả có 5 yếu tố thật sự tác động đến kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường EU là khoảng cách về kinh tế, khoảng cách về địa lý, tổng sản phẩm quốc nội của EU và độ mở cửa nền kinh tế Việt Nam và tỷ giá hối đoái.
Trong đó, hai nhân tố đầu tiên có ảnh hưởng ngược chiều đến kim ngạch xuất khẩu còn lại tỷ giá hối đoái, GDP của EU và độ mở cửa thì tác động thuận chiều.