Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu. Chương này sẽ tiến hành trình bày các nội dung sau: đặt vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài nghiên cứu, nêu khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước và chỉ ra tính cấp thiết, mô tả khái quát về mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, phương pháp và khung phân tích nghiên cứu, những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của đề tài. Chương 2 Tổng quan về hệ số an toàn vốn của NHTM. Thông qua chương này các nội dung sau: cơ sở lý luận về hệ số an toàn vốn, một số nghiên cứu trong và ngoài nước về hệ số an toàn vốn, từ đó chỉ ra được những yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của các NHTM, sẽ được trình bày cụ thể.
Chương 3 Trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ mô tả các nội dung như sau: giả thuyết nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu, giới thiệu các biến đưa vào mô hình, mô tả dữ liệu nghiên cứu, quy trình và phương pháp nghiên cứu. -7- Chương 4 Kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày kết quả về thống kê mô tả các biến đã được đưa vào mô hình, xây dựng các mô hình hồi quy, kiểm định lựa chọn mô hình và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách. Chương cuối của luận văn sẽ nêu kết luận về các yếu tố cũng như tác động của các yếu tố đến hệ số an toàn vốn của NHTM, đưa ra các khuyến nghị đồng thời nêu những hạn chế của luận văn để định hướng cho những nghiên cứu sau. LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận về hệ số an toàn vốn 2.1 Khái niệm hệ số an toàn vốn Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một trong 5 ủy ban quan trọng của Ngân hàng thanh toán quốc tế được thành lập như một Ủy ban về thông lệ và thực hiện giám sát an toàn hoạt động ngân hàng bởi Ngân hàng Trung ương thuộc Chính phủ nhóm G- 10 vào cuối năm 1974. Những năm 80 của thế kỉ trước, trước sự sụt giảm về tỉ lệ vốn của các ngân hàng quốc tế và sự gia tăng rủi ro quốc tế liên quan đến các nước có tỉ lệ nợ lớn, được sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo 10 nước thành viên, Ủy ban đã đưa ra một hệ thống đo lường vốn được gọi là: Hiệp ước Basel.
Hiệp ước này được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tế. Đến nay, Ủy ban đã ban hành hiệp ước Basel III. Mức độ đủ vốn, theo Hiệp ước Basel, là số vốn liên quan đến tài sản và khoản vay của một tổ chức tài chính, phụ thuộc vào quy mô và chất lượng của tài sản. Các ngân hàng đo lường mức độ rủi ro thông qua các tài sản có rủi ro (RWA) (BIS, 1999).
Mức độ đủ vốn được tính dựa trên hệ số an toàn vốn - tỷ lệ do cơ quan quản lý nhà nước quy định, tức là số vốn của ngân hàng được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm rủi ro. Wall (1985) cho rằng, áp dụng đúng các chuẩn mực về quản trị vốn sẽ giúp các NHTM tối thiểu việc phá sản, giúp các NHTM hoạt động ổn định. Các ngân hàng đủ tiêu chuẩn về an toàn vốn có kết quả kinh doanh tốt hơn những ngân hàng không đủ tiêu chuẩn an toàn vốn, việc này biểu hiện qua kết quả huy động vốn, kết quả hoạt động tín dụng và kết quả kinh doanh (Bentson và Keufman, 1996). Ngoài ra, Pandey (2005) còn cho rằng tỷ lệ an toàn vốn tốt giúp các NHTM tránh nguy cơ phá sản do luôn đáp ứng tốt nhu cầu thanh khoản và có khả năng tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai.
-9- Hệ số an toàn vốn là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại, biểu thị sức mạnh tài chính của ngân hàng. Hệ số an toàn vốn giúp xác định khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng với khả năng tự vệ từ vốn tự có và đánh giá khả năng thích ứng các rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động…Xem xét hệ số này cũng giúp tạo ra công bằng khi đánh giá rủi ro trong hoạt động giữa các ngân hàng. Ngân hàng trung ương các nước thường quy định CAR tối thiểu để bảo vệ người gửi tiền, người cho vay và qua đó giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính. Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một hệ số an toàn vốn tối thiểu, ở Việt Nam tỉ lệ này hiện đang là 8% (Thông tư 41), giống như chuẩn mực Basel mà các hệ thống ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến.2 Đo lường hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng.
Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. (Vốn cấp I + Vốn cấp II) CAR = X 100% Tài sản đã điều chỉnh rủi ro Khi tính toán hệ số an toàn vốn, có hai loại vốn được xét đến là: vốn cấp I (vốn nòng cốt) và vốn cấp II (vốn bổ sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn cao hơn. Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở nên, các ngân hàng còn phải đảm bảo tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I. Trong đó, - 10 - Vốn cấp I là thước đo chủ yếu đánh giá sức mạnh, tiềm lực tài chính của một ngân hàng từ quan điểm của cơ quan quản lý.
Theo hiệp ước Basel được đưa ra bởi Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80, vốn cấp I bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy cao nhất và có tính thanh khoản tốt nhất như: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi không hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại. Khái niệm chung là như vậy, tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nước lại có những quy định cụ thể riêng về những công cụ tài chính cụ thể nào có thể được tính vào vốn cấp I. Vốn cấp II bao gồm lợi nhuận chưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp. Tài sản điều chỉnh rủi ro là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản lý thường là ngân hàng trung ương đưa ra.
Hầu hết các ngân hàng trung ương đều theo chuẩn của ngân hàng Thanh toán Quốc tế để đặt ra những trọng số này. Hiện tại, ngoài trọng số đối với rủi ro tín dụng, để tính toán hệ số CAR các NHTM cần đánh giá lại tài sản bao gồm trọng số đối với rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.3 Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng được nhắc tới khi đánh giá hoạt động của NHTM, đây cũng là chỉ tiêu được bàn luận nhiều nhằm đưa ra cách xác định hệ số này một cách hợp lý nhất. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của hệ số này trong việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng. Trong xu hướng quốc tế hoá và nền kinh tế thị trường ngày nay, các NHTM luôn phải đối mặt với hai vấn đề lớn đó là năng lực cạnh tranh và rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Hệ số an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng của một ngân hàng trước hai vấn đề trên. - 11 - Một là, hệ số an toàn vốn là chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, CAR được cấu thành bởi hai thành phần rất quan trọng đó là vốn tự có và tài sản có rủi ro quy đổi. Nếu như vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời thì tài sản có rủi ro quy đổi lại phản ánh hoạt động sử dụng vốn và mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà ngân hàng đó cấp cho nền kinh tế. Vì vậy CAR chính là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra.
Một ngân hàng có CAR đạt tiêu chuẩn theo quy định nghĩa là ngân hàng có khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền gửi. Hai là, thực hiện đúng chỉ tiêu hệ số an toàn giúp tăng uy tín cho NHTM. Kinh doanh tiền gửi là một loại hình kinh doanh đặc biệt mà trong đó uy tín của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định đến sự thành bại của ngân hàng. Một ngân hàng có hệ số an toàn đạt tiêu chuẩn không đơn thuần là việc ngân hàng đã chấp hành đúng quy định của ngân hàng trung ương đặt ra mà bản thân ngân hàng sẽ tạo được uy tín đối với khách hàng.
Tạo được uy tín đối với khách hàng cũng đồng nghĩa với khả năng tăng sức cạnh tranh so với các ngân hàng khác. Ba là, CAR còn là công cụ để ngân hàng trung ương thực hiện giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, tức là kiểm tra việc đảm bảo vốn thực có so với vốn đăng ký ghi trong giấy phép khi thành lập và so với vốn pháp định, kiểm tra quỹ dự phòng rủi ro có chấp hành theo quy định, kiểm tra chỉ tiêu an toàn và hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn của các NHTM. Vì nếu các ngân hàng không chấp hành quy định về hệ số an toàn vốn sẽ có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản điều này có thể gây nguy hại cho toàn bộ hệ thống tài chính của cả quốc gia.2 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn Lý thuyết về hệ số an toàn vốn rất phong phú và tồn tại nhiều hướng tiếp cận khác nhau.