Chương 1. Cơ sở luận về dịch vụ mobile banking và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mobile banking của khách hàng cá nhân tại NHTM Chương 2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mobile banking tại BIDV chi nhánh Đông Đô Hà Nội Chương 3: Giải pháp hỗ trợ định hướng sử dụng dịch vụ Mobile banking tại BIDV chi nhánh Đông Đô Hà Nội 12 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LUẬN VỀ DỊCH VỤ MOBILE BANKING VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ MOBILE BANKING CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NHTM 1.
Tổng quan về dịch vụ Mobile banking 1. Khái niệm Kể từ năm 1990, mạng internet không dây đã không ngừng được phát triển. Các sản phẩm của công nghệ di động là các dịch vụ dữ liệu không dây tinh vi, tập trung vào việc truy cập di động vào internet và nhắn tin điện tử trên thiết bị di động. Internet “trong túi của bạn” có rất nhiều ứng dụng tiềm năng, thông tin du lịch, tin tức, mua sắm…Theo Shaikh và Karjaluoto (2015) Mobile banking được thực hiện kể từ cuối những năm 1990, khi công ty Paybox của Đức, hợp tác với Deutsch Bank đã đưa ra dịch vụ đầu tiên.
Ban đầu, nó đã được triển khai và kiểm tra chủ yếu ở các nước Châu Âu như Đức, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Áo và Mỹ.Có nhiều định nghĩa khác nhau về Mobile banking, như: “Mobile banking là việc thực hiện các giao dịch của khách hàng với ngân hàng bằng điện thoại di động hoặc một thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân không dây có kết nối internet” (Barnes và Cobitt, 2003). Một vài nghiên cứu trước đây đưa ra khái niệm “Mobile banking là một kênh truyền thông sáng tạo, trong đó khách hàng tương tác với ngân hàng thông qua một thiết bị di động” (Faria, 2012). Một số nghiên cứu khác như Alafeef và cộng sự (2012), Harma và Dubey (2009); Lee và Chung (2009) cho rằng “Mobile banking là một hình thức thương mại điện tử cho phép khách hàng truy cập vào tài khoản ngân hàng thông qua một thiết bị di động để thực hiện các giao dịch như kiểm tra tài khoản, chuyển tiền, thực hiện thanh toán hoặc giao dịch chứng khoán”. Tuy nhiên, với các khái niệm trên, chưa rõ thiết bị di động nào đủ điều kiện để sử dụng thuật ngữ Mobile banking.
Chẳng hạn, máy tính xách tay có thể sử dụng để truy cập vào các dịch vụ ngân hàng, đây cũng là một thiết bị di động không dây. 13 Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng từ máy tính xách tay không nên được coi là thiết bị áp dụng cho Mobile banking, vì giao diện sử dụng tương tự như dùng máy tính để bàn (có thể coi là internet banking). Do vậy, trong nghiên cứu này, Mobile banking được sử dụng trong bài theo khái niệm của Shaikh và Karjaluoto (2015): “Mobile banking là một sản phẩm dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng để thực hiện các giao dịch tài chính và phi tài chính thông qua điện thoại di động hoặc máy tính bảng”. Đặc điểm Mobile Banking là hình thái của ngân hàng điện tử và thương mại di động nên có một số đặc điểm như tính rộng khắp, khả năng tiếp xúc, sự định vị, tính cá nhân hóa, tính phổ biển, tính thuận tiện và tính tức thì.
- Tính rộng khắp (Ubiquity): Mobile Banking có thể đáp ứng nhu cầu cho khách hàng về thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ độc lập với vị trí địa lý hiện tại của người sử dụng – Mobile Banking cho phép khách hàng sử dụng dịch vụ mọi lúc, mọi nơi. - Khả năng tiếp xúc (Reachability): Bằng thiết bị di động, khách hàng có khả năng liên hệ với người khác và các ngân hàng cũng có thể tiếp cận với khách hàng để cung cấp dịch vụ Mobile Banking bất cứ lúc nào hay ở đâu. - Sự định vị (Localization): Với các công nghệ về định vị như hệ thống định vị toàn cầu (GPRS), cho phép các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở một vị trí địa lý cụ thể cho khách hàng như địa điểm đặt máy ATM, Kios hay chi nhánh của ngân hàng…. - Tính cá nhân hóa (Personalization): Điện thoại di động có phần thiết lập và cài đặt theo sở thích để lưu dữ liệu và cho phép tiếp cận thông tin, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân.
Do đó, với dịch vụ Mobile Banking khách hàng có thể thiết lập các tùy chọn giao diện, phương thức kết nối sử dụng dịch vụ và bảo mật các thông tin tài chính cá nhân. - Tính phổ biến (Dissemination): Cơ sở hạ tầng mạng viễn thông hỗ trợ việc cung cấp dữ liệu, thông tin đồng thời đến tất cả khách hàng sử dụng di động trong khu vực địa lý nhất định. Tính năng này cung cấp một phương tiện hiệu quả để phổ biến thông tin đến một số lượng lớn khách hàng sử dụng Mobile Banking. 14 - Tính thuận tiện (Convenience): Mobile Banking giúp cho khách hàng đã sử dụng điện thoại di động cảm giác quen thuộc và đơn giản khi thực hiện dịch vụ.
Bên cạnh đó, với Mobile Banking thì khách hàng tin tưởng vào khả năng thực hiện dịch vụ luôn ở trong tầm tay mọi lúc mọi nơi. - Tính tức thì (Immediacy): Tính tức thì làm tăng sự hấp dẫn với các dịch vụ mà Mobile Banking đem lại cho khách hàng, đó là đáp ứng nhu cầu tức thời của khách hàng mọi lúc mọi nơi như: cập nhật thông tin về tỷ giá, thông tin môi giới chứng khoán, giá cả hàng hóa cơ bản… Tính tức thì sẽ giúp khách hàng không phải lo sợ bị bỏ lỡ một số thông tin quan trọng hoặc có khả năng nhận được các thông tin quan trọng từ ngân hàng khi đã quá muộn. Các hình thái của dịch vụ mobile banking Trong quá trình phát triển, Mobile Banking gồm những hình thái chính sau (Vũ Hồng Thanh, 2016): Short Message Service, Mobile Web và Mobile Client Applications. Mỗi hình thái đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, được áp dụng dựa vào đặc trưng và chiến lược riêng của mỗi ngân hàng.
- Short Message Service (SMS): Đây là loại hình mà hầu hết các NHTM đều sử dụng, công nghệ này vừa tiện lợi và chi phí để áp dụng cũng rẻ hơn so với những công nghệ khác. Một khách hàng sử dụng dịch vụ này có thể nhắn tin SMS để kiểm tra số dư trong tài khoản, thanh toán tiền điện, nước, chuyển khoản,… (Vũ Hồng Thanh, 2016) + Ưu điểm: Tiện lợi, dễ sử dụng, phù hợp, chi phí rẻ với người dùng; không đòi hỏi thiết lập phần mềm; cho phép ngân hàng cung cấp các thông tin thực tới người dùng; có thể lưu trữ nội dung tin nhắn mà không cần kết nối mạng + Nhược điểm: Chỉ có dạng văn bản thông thường và giới hạn trong 140-160 kí tự 1 tin nhắn; không bảo mật, không hỗ trợ đa phương tiện. - Mobile Web: Cho phép việc truy cập website thông qua điện thoại cầm tay với màn hình to và độ phân giải cao thông qua Wireless Application Protocol (WAP). Điều này giúp cho khách hàng thực hiện các giao dịch của mình thông qua website (Vũ Hồng Thanh, 2016).
15 + Ưu điểm: Cho phép khách hàng sử dụng được các ứng dụng đa phương tiện, cho phép người dùng cuối thực hiện các ứng dụng kết hợp, kết nối bảo mật. + Nhược điểm: Nhiều thiết bị không tương thích, hạn chế về tốc độ và băng thông, trình duyệt, không làm việc được khi không có WAP. - Mobile Client Applications: Đây là công nghệ mà hầu hết các ngân hàng trên thế giới đang sử dụng vì tính an toàn, bảo mật và khả năng làm việc liên tục của nó. Công nghệ này sẽ cài lên mỗi smartphone 1 phần mềm riêng biệt giúp cho khách hàng có thể giao dịch với ngân hàng 24/7 thông qua mạng điện thoại (Vũ Hồng Thanh, 2016).
+ Ưu điểm: Cung cấp nhiều dịch vụ đa phương tiện; có khả năng làm việc ngay cả khi không kết nối mạng WAP, độ bảo mật cao với những ứng dụng riêng, đảm bảo thông tin khách hàng khi thiết bị cầm tay bị mất hoặc ăn trộm. + Nhược điểm: Đòi hỏi máy phải có hệ điều hành phù hợp; sự khác biệt giữa các hệ điều hành và các loại máy điện thoại sẽ là cản trở lớn cho việc hỗ trợ công nghệ này. Cơ sở lý thuyết ý định sử dụng dịch vụ mobile banking của khách hàng 1. Khái niệm ý định hành vi của khách hàng Khi nói về ý định ta có thể xem xét một số khái niệm về ý định của các tác giả có liên quan trong những nghiên cứu trước đây.
Assagioli (1973) cho rằng “Ý định được hiểu như là sự sẵn lòng của cá nhân hoặc có kế hoạch tham gia vào một hành vi cụ thể, ý định được dùng để dự đoán cho một hành vi trong tương lai”. Theo Ajzen (1991) thì “Ý định được hiểu là trạng thái của tâm trí nó hướng sự chú ý của cá nhân, những kinh nghiệm, hành động hướng đến những việc cụ thể tức là mục tiêu hay cách thức đạt được một điều gì đó, nó như là một yếu tố tâm lý độc lập hoạt động thông qua sự quan tâm, chú ý của cá nhân, giữ những ý tưởng ý định và sự ưng thuận ban đầu về hành vi ý định”. Krueger và cộng sự (2000) thì cho rằng “Những ý định được cho là điều quan trọng để hiểu rõ những hành vi mà một cá nhân sẽ thực hiện, có thể sẽ có sự khác biệt giữa hành vi ý định và hành vi thực tế. Tuy nhiên, nó được xác định là 16 một trong những xu hướng của hành động để hướng tới một cái gì đó theo một cách nhất định và nó là dự báo nhất quán của hành vi thực tế”.
Thông qua các khái niệm khác nhau về ý định, ta có thể thấy rằng các tác giả đưa ra khái niệm ý định đều cho rằng: “Ý định hành vi là một dấu hiệu cho hành vi, ý định sẽ giúp định hình hành vi xảy ra trong tương lai và là một trạng thái tâm lý sẽ hướng hành vi đến những gì được xem là ý định hay ý định từ trước”.