đặt vấn đề và nêu lên tính cấp thiết của vấn đề cần phải nghiên cứu. Từ đó, tác giả định ra mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu tương ứng cần phải hoàn thành. Nhằm để giải quyết được vấn đề nghiên cứu thì tác giả đã xem xét các đối tượng nghiên cứu cũng như thu thập số liệu và giai đoạn nghiên cứu. đồng thời, trong chương này đã trình bày phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ tiếp cận để đạt được kết quả nghiên cứu.
7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cơ sở lý thuyết 2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư. Mặc dù xuất hiện muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác đến cả vài chục năm nhưng FDI đã nhanh chóng thiết lập vị trí của mình trong quan hệ quốc tế.
Dần trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử, một nhu cầu không thể thiếu của mọi quốc gia trên thế giới. Theo “Quỹ tiền tệ thế giới IMF” trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư có lợi ích lâu dài của doanh nghiệp tại một nước khác là nước nhận đầu tư không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư- source country) và với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp. Theo “Uỷ ban thương mại và phát triển thế giới của Liên hợp quốc (UNCTAD) trong Báo cáo về đầu tư thế giới năm 1996 lại đưa ra khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ lợi ích và kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân ( là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (với doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp). Văn bản “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” năm 1987 (đã sửa đổi năm 2000) quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài”.
Định nghĩa này nêu khá toàn diện về các đặc tính của FDI. Nguồn gốc và bản chất của FDI FDI mặc dù xuất hiện muộn hơn so với các hình thức đầu tư kinh tế đối ngoại khác vài chục năm nhưng nó đã thiết lập được vị trí của mình trong mối quan hệ quốc tế. Dần trở thành một xu hướng, một nhu cầu tất yếu của các quốc gia trên Thế giới. Về bản chất FDI là sự gặp nhau giữa nhu cầu của các bên : nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư.
Trong đó, cụ thể: Có sự thiết lập quyền và nghĩa vụ của nước đầu tư và nước được nhận đầu tư. Đối với các nguồn vốn đã được đầu tư, thiết lập quyền sở hữu và quyền quản lý. Kèm theo quyền chuyển giao công nghệ, kỹ thuật của nhà nước đầu tư với nước bản địa. Có liên quan đến sự mở rộng thị trường của các doanh nghiệp, tổ chức đa quốc gia.
Luôn luôn gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế. Các đặc trưng cơ bản Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng là một hình thức đầu tư nên các dự án FDI cũng mang những đặc trưng cơ bản của của các hình thức đầu tư: Đây cũng là một hình thức bỏ vốn của các nhà đầu tư nên các quyết định chủ yếu thường là các quyết định tài chính, vì vậy mỗi quyết định đưa ra cần được cân nhắc kỹ lưỡng và thận trọng, cân nhắc được các lợi ích lâu dài của dự án. Tùy theo quy định của từng quốc gia, nhà đầu tư phải góp đủ số vốn tối thiểu để có thể tham gia kiểm soát hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Các nước muốn thu hút đầu tư FDI phải có hành lang pháp lý rõ ràng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tránh trường hợp FDI chỉ phục vụ mục đích của nhà đầu tư.
Tùy vào luật pháp của từng quốc gia mà tỷ lệ vốn góp giữa các bên có sự thay đổi sao cho phù hợp, lợi nhuận và rủi ro của các nhà đầu tư cũng tương ứng với tỷ lệ này. 9 Thu nhập của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ đầu tư là người quyết định quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chính vì vậy phải chịu trách nhiệm về tình hình lãi, lỗ của doanh nghiệp đó. Bất kể nhà đầu tư nào khi đầu tư đều có quyền quyết định thị trường, hình thức quản lý, công nghệ đo đó có thể đưa ra quyết định phù hợp nhất để mang lại lợi nhuận cao nhất.
học kế toán online Doanh nghiệp FDI thường là doanh nghiệp kèm theo công nghệ của nhà đầu tư cho các nước tiếp nhận đầu tư chính vì vậy các nước chủ nhà có thể tiếp cận được công nghệ tiên tiến thông qua đó học hỏi được kinh nghiệm, kỹ thuật. Vai trò của FDI Tác động tích cực của FDI: Do người nước ngoài là người trực tiếp điều hành, quản lí vốn nên họ có trách nhiệm cao và kỹ năng tốt, học xuất nhập khẩu online Khai thác được nguồn tài nguyên khoáng sản và nguồn lao động dồi dào. Tăng lượng việc làm và đào tạo nhân công chất lượng cao. Mở rộng thị trường tiêu thụ kéo theo đó là quy mô sản xuất rộng lớn, nâng cao sản xuất, giảm giá thành sản phẩm phù hợp với thu nhập của người tiêu dùng.
học kế toán trưởng Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và phí mậu dịch của nước tiếp nhận đầu tư. Bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế – xã hội trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tạo nguồn thu ngân sách lớn cho cả hai bên. Tác động tiêu cực của FDI: Phải đối mặt với nhiều gánh nặng trong môi trường mới về chính trị, xung đột vũ trang.
Hay đơn thuần là những tranh chấp nội bộ, mâu thuẫn về những khác biệt trong tư duy truyền thống. Nếu doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư ra nước ngoài thì trong nước sẽ mất đi nguồn vốn đầu tư. Gây khó khăn trong việc tìm vốn phát triển, áp lực giải quyết 10 việc làm trong nước, do đó có thể dẫn tới nguy cơ suy thoái kinh tế. học kế toán thực hành ở đâu tốt nhất Các chính sách trong nước có thể bị thay đổi bởi khi đưa ra yêu cầu đầu tư, các nhà đầu tư thường có các biện pháp vận động Nhà nước theo hướng có lợi cho mình.
Trong quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ có sự thay đổi liên tục của các luồng vốn dẫn đến cán cân kinh tế bị di chuyển theo. Tổng quan về tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoãi của các nước Châu Á đang phát triển. Tình hình kinh tế các nước Châu Á đang phát triển Tăng trưởng GDP ở khu vực Châu Á đang phát triển được kỳ vọng duy trì ở mức cao trong trung hạn nhờ vào nhu cầu nội địa và đầu tư ổn định, trong khi thương mại đang dần phục hồi. Theo báo cáo của OECD, những rủi ro chính cho tăng trưởng ở khu vực bao gồm khả năng chính sách tiền tệ thắt chặt hơn ở các nền kinh tế phát triển, việc mở rộng các rào cản thương mại trên toàn cầu, sự trì trệ của các hiệp định thương mại khu vực, cùng với việc nợ ở khu vực tư nhân gia tăng nhanh chóng.
Theo báo cáo mới nhất của trung tâm OECD cho rằng đà giảm tốc về tốc độ tăng trưởng ở các nước Châu Á đang phát triển là rất lớn do ảnh hưởng của đại dịch COVID -19. Tất cả các quốc gia đều bị ảnh hưởng do suy thoái, tiêu dùng tư nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng, với thu nhập khả dụng thực tế suy giảm bởi triển vọng thị trường lao động ngày càng xấu đi. Đầu tư tư nhân tiếp tục yếu do hoạt động dưới năng suất và tình trạng bất trắc tiếp diễn. Tương tự, xuất khẩu tiếp tục ảm đạm do thương mại thế giới sụt giảm rõ rệt và khả năng xảy ra gián đoạn chuỗi giá trị toàn cầu khi căng thẳng thương mại tái xuất hiện.
Thị trường tài chính nhìn chung là ổn định, nhưng tâm lý tài chính bất ổn có thể làm yếu thêm dòng vốn chảy vào khu vực. Ở cấp độ ngành, du lịch và lữ hành tiếp tục đối mặt với thách thức lớn. Các nhà hoạch định chính sách đang phải đối mặt với những thách thức kinh tế rất lớn, một trong số đó bao gồm việc đảm bảo rằng các nguồn lực bổ sung nhằm đối phó với khủng hoảng giải quyết hiệu quả nhu cầu của doanh nghiệp và hộ gia đình. Thứ hai, các chính phủ cần đảm bảo tính bền vững trong dài hạn của tài chính công 11 trong bối cảnh thâm hụt ngày càng tăng.
Các nước Châu Á đang phát triển có thể xem xét các lựa chọn chính sách rộng hơn, bao gồm hợp tác toàn khu vực, để giải quyết hai thách thức đồng thời này. Đặc biệt đại dịch COVID -19 đã cho thấy được tầm quan trọng của ngành y tế và công nghệ giáo dục số. Cuối cùng đã đấy mạnh cuộc Cách Mạng Công Nghiệp 4.0, ngành công nghiệp này cho phép các doanh nghiệp luôn thích ứng kịp thời với nhu cầu thị trường. Một số nước trong khu vực như Việt Nam, Trung Quốc….
còn mạnh dạn đưa ra các chính sách hỗ trợ số hóa trong đại dịch bằng cách ưu đãi cho doanh nghiệp để khuyến khích phát triển thương mại điện tử và số hóa trong các kênh thương mại. Bảng 2-1 Tốc độ phát triển các nước Châu Á (1) Đơn vị tính % Năm Vietnam Lào Cambodia Thailand Myanmar 2011 5.59) (Nguồn Worldbank) 12 Bảng 2-2: Tốc độ phát triển các nước Châu Á (2) Đơn vị tính % Năm India Indonesia China Philippines Malaysia 2011 5.80) (Nguồn Worldbank) 13 Bảng 2-3: So sánh tốc độ phát triển một số nước trong khu vực Châu Á Việt Nam đang được đánh giá thuộc nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực. Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 2012 là 4.15% tăng liên tục không ngừng đến năm 2019 đạt mức 6.