Tổng quan nghiên cứu

Năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đơn chiều tại tỉnh Long An chỉ ở mức 2,89% với 11.126 hộ nghèo, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ nghèo bình quân cả nước khoảng 5,8% đến 6,0%. Tuy nhiên, cách tiếp cận đơn chiều dựa trên thu nhập hay chi tiêu thuần túy đã bộc lộ nhiều hạn chế lớn khi không phản ánh đầy đủ các thiếu hụt an sinh xã hội cơ bản của người dân. Thực tế cho thấy, một hộ gia đình có thu nhập vượt chuẩn nghèo tiền tệ vẫn có thể sống trong điều kiện nhà ở tạm bợ, thiếu nước sạch, không có nhà vệ sinh hợp chuẩn hoặc con cái phải bỏ học sớm.

Trước bối cảnh Việt Nam chuẩn bị chuyển đổi sang phương pháp đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích thực trạng nghèo và định lượng các yếu tố tác động đến xác suất nghèo của hộ gia đình theo cách tiếp cận nghèo đa chiều. Nghiên cứu tập trung vào phạm vi không gian gồm 3 huyện trọng điểm là Đức Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng, kết hợp dữ liệu thống kê thứ cấp giai đoạn 2013-2015 và số liệu khảo sát thực địa cuối năm 2015.

Ý nghĩa của đề tài thể hiện ở việc tiên phong cung cấp bằng chứng thực nghiệm định lượng về nghèo đa chiều tại địa phương, giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện chính xác các nhóm thiếu hụt trọng yếu. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở khoa học để chính quyền địa phương tái phân bổ nguồn lực công, nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trong giai đoạn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nghèo đa chiều của Amartya Sen và Sudhir Anand (1997), kết hợp khung phương pháp đo lường Alkire - Foster (2008, 2010) do Viện OPHI Đại học Oxford và UNDP phát triển. Mô hình chỉ số nghèo đa chiều (MPI) bao gồm 3 chiều phúc lợi cốt lõi là Giáo dục, Y tế và Mức sống, được cụ thể hóa thành 10 chỉ tiêu đo lường thiếu hụt. Một hộ gia đình được xác định là nghèo đa chiều khi có tổng điểm thiếu hụt từ 1/3 (tương đương 33,33%) trở lên.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết vốn con người thuộc trường phái Tân cổ điển của Girma và Kedir (2003), lý thuyết phân phối thu nhập của Adam Smith (1776) và David Ricardo (1817), cùng mô hình kinh tế lượng về nghèo đói của Gillis – Perkins – Roemer – Snodgrass (1983). Mô hình Gillis chỉ ra rằng 97% sự thay đổi thu nhập của 40% nhóm dân cư nghèo nhất được giải thích bởi sự thay đổi GNP bình quân đầu người, nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Hệ thống khái niệm chính của đề tài bao gồm: chuẩn nghèo đơn chiều, nghèo đa chiều, độ sâu nghèo đói, ngưỡng thiếu hụt phúc lợi và vòng luẩn quẩn của nghèo đói.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Long An giai đoạn 2013-2015 và dữ liệu sơ cấp thu thập từ 230 hộ gia đình. Khảo sát thực địa được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi cấu trúc từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2015 tại 3 huyện Đức Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cho vùng trũng chịu lũ 3 tháng mỗi năm và khu vực biên giới giáp Campuchia.

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic với phương pháp ước lượng Hợp lý cực đại (Maximum Likelihood Estimation - MLE). Lý do lựa chọn mô hình này là vì biến phụ thuộc nhận giá trị nhị phân (bằng 1 nếu hộ nghèo đa chiều và bằng 0 nếu không nghèo). Độ tin cậy của mô hình được bảo đảm thông qua 3 bước kiểm định nghiêm ngặt: kiểm định hệ số tương quan từng phần Wald, kiểm định Omnibus về độ phù hợp tổng thể và kiểm định Hosmer-Lemeshow về mức độ giải thích dữ liệu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô hình hồi quy Binary Logistic trên cỡ mẫu 230 quan sát đã xác định các yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động trực tiếp đến tình trạng nghèo đa chiều:

  • Trình độ học vấn của chủ hộ có mối tương quan nghịch với xác suất nghèo đa chiều; khi chủ hộ nâng cao trình độ thêm một cấp học, khả năng rơi vào nghèo đói của hộ gia đình giảm đi rõ rệt.
  • Hộ gia đình có trẻ em từ 6 đến 15 tuổi không được đi học làm gia tăng xác suất nghèo đa chiều lên hơn 2,5 lần so với các hộ bảo đảm việc đến trường của trẻ.
  • Tình trạng bệnh tật kéo dài hoặc suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ nghèo đa chiều gấp hơn 2 lần, tạo ra gánh nặng kép về chi phí điều trị và suy giảm sức lao động.
  • Số người phụ thuộc trong gia đình có hệ số hồi quy dương; mỗi thành viên phụ thuộc tăng thêm làm tăng gánh nặng kinh tế của hộ lên khoảng 35% đến 40%.
  • Diện tích đất canh tác và quy mô vốn vay từ các tổ chức tín dụng chính thức có tác động kéo giảm nghèo; hộ sở hữu từ 10.000 m2 (1 ha) đất sản xuất trở lên có xác suất nghèo thấp hơn 60% so với hộ không có đất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đa chiều tại các huyện khảo sát bắt nguồn từ đặc thù tự nhiên của vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười và vùng biên giới. Nhiều hộ dân có việc làm phi chính thức mang lại thu nhập ngắn hạn nhưng thiếu hụt trầm trọng các dịch vụ xã hội cơ bản như nước hợp vệ sinh, nhà tiêu hợp chuẩn và bảo hiểm y tế.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu trước đây của UNDP (2010) tại Việt Nam và nghiên cứu của Trần Minh Sang (2012) tại vùng Đông Nam Bộ, khẳng định rằng các chiều phi tiền tệ đóng góp hơn 50% vào mức độ thiếu hụt chung của hộ nghèo.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ mối quan hệ giữa các biến số được thể hiện rõ qua bảng phân tích tương quan chéo (crosstab) giữa biến trẻ em không đi học với tình trạng hộ, kết hợp cùng biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ nghèo đơn chiều 2,89% và tỷ lệ thiếu hụt đa chiều thực tế ước tính vượt trên 8,5% tại các địa bàn khảo sát.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng định lượng, đề tài đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm hỗ trợ giảm nghèo đa chiều bền vững:

  • Phổ cập giáo dục và ngăn chặn tình trạng bỏ học: Cung cấp học bổng toàn phần và hỗ trợ 100% chi phí học tập cho trẻ em từ 6 đến 15 tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo tại các huyện biên giới. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi này bỏ học xuống dưới 1% trước quý 4 năm 2017. Đơn vị chủ trì thực hiện là Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Ủy ban nhân dân cấp huyện.
  • Can thiệp y tế cơ sở và phòng chống suy dinh dưỡng: Triển khai cấp phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí đạt độ bao phủ trên 95% cho các hộ thiếu hụt chiều y tế, đồng thời tổ chức chương trình bổ sung vi chất cho trẻ em vùng lũ với mục tiêu hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống dưới 10% trong giai đoạn 2016-2018. Sở Y tế chịu trách nhiệm chính.
  • Nâng cấp hạ tầng nước sạch và vệ sinh môi trường: Cung cấp gói tín dụng ưu đãi 0% lãi suất với hạn mức từ 12 đến 15 triệu đồng mỗi hộ để xây dựng nhà vệ sinh tự hoại và kết nối hệ thống nước sạch nông thôn, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ có nước sạch đạt 85% vào năm 2018. Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn triển khai.
  • Mở rộng quy mô tín dụng chính sách gắn với đào tạo nghề: Tăng hạn mức vay vốn sản xuất nông nghiệp lên mức tối đa 50 triệu đồng mỗi hộ với chu kỳ vay 36 tháng; tổ chức ít nhất 20 lớp tập huấn kỹ thuật canh tác mỗi năm cho hơn 1.500 lượt nông dân vùng ngập lũ trong giai đoạn 2016-2020. Hội Nông dân tỉnh chủ trì thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để vận hành việc rà soát hộ nghèo theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, giúp tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách giảm nghèo cho 14 huyện, thị xã của tỉnh Long An.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp ứng dụng mô hình Binary Logistic trên cỡ mẫu 230 quan sát để phân tích các vấn đề an sinh xã hội và kinh tế công.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Cung cấp dữ liệu thực địa tin cậy về mức độ thiếu hụt đa chiều tại khu vực biên giới Tây Nam, hỗ trợ thiết kế các gói viện trợ sinh kế có quy mô từ 50.000 đến 100.000 USD đạt hiệu quả cao nhất.
  • Ngân hàng Chính sách Xã hội và các định chế tài chính vi mô: Ứng dụng các chỉ báo thiếu hụt đa chiều để thiết lập bộ tiêu chí chấm điểm tín dụng phi tài chính, giúp giải ngân đúng đối tượng cho hơn 10.000 hộ nghèo và cận nghèo tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Nghèo đa chiều khác biệt như thế nào so với nghèo đơn chiều truyền thống? Nghèo đơn chiều chỉ đo lường dựa trên mức thu nhập hoặc chi tiêu tối thiểu, dễ bỏ sót các hộ có thu nhập nhỉnh hơn chuẩn nghèo nhưng thiếu thốn nghiêm trọng về y tế, giáo dục hay nhà ở. Ngược lại, nghèo đa chiều đo lường đồng thời 3 chiều phúc lợi với 10 chỉ tiêu cụ thể, xác định hộ nghèo khi bị thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm trở lên.

Tại sao nghiên cứu lại chọn địa bàn khảo sát tại 3 huyện Đức Huệ, Vĩnh Hưng và Mộc Hóa? Ba huyện này mang tính đại diện cao cho các đặc trưng kinh tế - xã hội đặc thù của Long An, bao gồm địa hình vùng trũng chịu mùa lũ kéo dài 3 tháng mỗi năm và khu vực tiếp giáp biên giới Campuchia, nơi các thiếu hụt về giáo dục và dịch vụ công bộc lộ rõ nét nhất.

Yếu tố nào tác động mạnh nhất làm gia tăng nguy cơ nghèo đa chiều trong mô hình? Kết quả ước lượng chỉ ra rằng việc trẻ em từ 6 đến 15 tuổi không được đi học và thành viên trong hộ bị suy dinh dưỡng, bệnh tật kéo dài là hai biến số có tác động mạnh nhất, làm tăng xác suất nghèo đa chiều lên hơn 2,5 lần so với nhóm đối chứng.

Làm thế nào để hạn chế tình trạng trẻ em bỏ học tại vùng trũng và biên giới? Chính quyền địa phương cần kết hợp chính sách miễn giảm 100% học phí với việc hỗ trợ phương tiện đi lại trong mùa lũ và trợ cấp dinh dưỡng bán trú, đồng thời nâng cao nhận thức của phụ huynh về vai trò tích lũy vốn con người dài hạn.

Nguồn vốn vay từ định chế tài chính chính thức đóng vai trò gì trong việc thoát nghèo đa chiều? Vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội với thời hạn 36 tháng cung cấp nguồn lực trực tiếp giúp các hộ gia đình đầu tư tư liệu sản xuất, mở rộng diện tích đất canh tác, từ đó nâng cao thu nhập và cải thiện các điều kiện sống thiết yếu.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh khoảng cách lớn giữa tỷ lệ nghèo đơn chiều 2,89% và bức tranh thiếu hụt đa chiều thực tế tại tỉnh Long An năm 2015.
  • Khung đo lường 3 chiều phúc lợi và 10 chỉ tiêu là công cụ khoa học chính xác để nhận diện đúng đối tượng nghèo trong giai đoạn mới.
  • Mô hình định lượng khẳng định các yếu tố: trình độ học vấn, việc đi học của trẻ 6-15 tuổi, sức khỏe, số người phụ thuộc, diện tích đất và vốn vay là những nhân tố quyết định xác suất nghèo.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ với lộ trình rõ ràng và các chỉ số đo lường hiệu quả cụ thể cho giai đoạn 2016-2020.
  • Nghiên cứu đóng góp nền tảng dữ liệu thực nghiệm quan trọng cho công tác quản lý công và hoạch định an sinh xã hội tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Đóng góp lớn nhất của đề tài là số hóa và lượng hóa các mối quan hệ phức tạp giữa các chiều thiếu hụt phi tiền tệ. Trong lộ trình 24 đến 36 tháng tới, các cơ quan ban ngành địa phương cần nhanh chóng tích hợp bộ công cụ đo lường này vào quy trình điều tra định kỳ. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy cùng chia sẻ, ứng dụng kết quả luận văn vào thực tiễn để chung tay thúc đẩy mục tiêu phát triển xã hội bền vững và công bằng.