chương 1 đã chỉ ra tính tất yếu của nghiệp vụ cấp tín dụng cũng như cân nhắc tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu an toàn, kiểm soát rủi ro tín dụng của các NHTM; theo đó tăng trưởng tín dụng phải cân nhắc trong những điều kiện nhất định kể cả yếu tố thuộc về ngân hàng lẫn yếu tố vĩ mô. Thêm vào đó đề tài đã tiếp cận các nghiên cứu trước có liên quan và thực tiễn các vấn đề liên quan tăng trưởng tín dụng của NHTM nói chung và các NHTM cổ phần tại Việt Nam, qua đó đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa các mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua các câu hỏi nghiên cứu xoay quanh quyết định lựa chọn hoặc điều chỉnh chính sách tăng trưởng cho vay phù hợp với các điều kiện khác nhau cho các NHTM cổ phần tại Việt Nam. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng cho vay, được nghiên cứu cho trường hợp 23 NHTM cổ phần tại Việt Nam trong thời gian 10 năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tính từ năm 2009 đến năm 2018.
Sau khi khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của của đề tài, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm về cho vay ,tín dụng Khái niệm về tín dụng: Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá.
Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau: ” Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.” Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau: – Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
– Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay. – Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay). Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi. Khái niệm về cho vay: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NH giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
8 Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất của ngân hàng thương mại. Để NH tồn tại và phát triển vững chắc, hoạt động cho vay phải an toàn và hiệu quả. Muốn vậy, nó phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Thứ nhất, KH vay vốn phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận.
Điều này giúp hạn chế rủi ro tín dụng cho NH. Thứ hai, KH phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng. Thứ ba, NH cho vay đối với những dự án khả thi, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ. Nhờ đó, NH mới có được lợi nhuận từ việc cho vay.
Với xu hướng phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa dạng, phong phú, hoàn thiện, đầu tư vào tất cả các lĩnh vực ngành nghề. Để đáp ứng nhu cầu vay vốn của ngân hàng ngày càng gia tăng, hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng mở rộng, đòi hỏi ngân hàng phải có quy trình quản lý chặt chẽ. Mục tiêu quản lý khoản mục cho vay thống nhất với mục tiêu chung của ngân hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn. Có thể hiểu ngắn gọn: “Hoạt động cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định”.
Ngân hàng trao quyền sử dụng vốn cho khách hàng, khách hàng dùng số vốn này đầu tư vào sản xuất kinh doanh kiếm lời, đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Khái niệm tă trưởng cho vay của â t ươ mại Theo lý thuyết chung về nghiệp vụ cũng như chức năng của NHTM, cho vay là một trong các hình thức cấp tín dụng của NHTM dành cho khách hàng, theo đó NHTM đóng vai trò là người cho vay và khách hàng là người đi vay (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Cho vay là một trong những nghiệp vụ cơ bản và chủ yếu trong các nghiệp vụ tài sản có sinh lời của các NHTM, do đó tăng trưởng cho vay đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu gia tăng thu nhập, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận và tiến đến gia tăng giá trị NHTM cũng như gia tăng giá trị tài sản cho cổ đông của NHTM. Nghiên cứu thực nghiệm của Lane P.
(2014) cho rằng tăng trưởng cho vay của NHTM là sự biến động giá trị dư nợ cho vay cho khách hàng, bao gồm cả nhóm khách hàng cá nhân và tổ chức; nếu NHTM gia tăng quy mô cho vay thì tương ứng khách hàng có thể vay vốn được nhiều hơn để sử dụng cho các mục đích tiêu dùng, đầu tư và sản xuất kinh doanh. Như vậy, tăng trưởng cho vay được tiếp cận trong đề tài này là sự biến động tăng (hoặc giảm) về giá trị của khoản cho vay của NHTM dành cho khách 9 hàng trong một khoảng thời gian nhất định, có thể được tính theo tháng, quý hoặc năm,… 2. Các yếu tố ả ưở đế tă trưởng cho vay của ngân hàng t ươ mại. Như đã đề cập ở trên, mở rộng tăng trưởng cho vay của các NHTM là cơ sở nền tảng để bản thân NHTM kỳ vọng có được thu nhập, tuy nhiên mở rộng tăng trưởng cho vay cũng đẩy rủi ro tín dụng trong cho vay của NHTM tăng thêm, và nếu không quản trị tốt rủi ro tín dụng thì NHTM có thể không đạt được lợi nhuận như kỳ vọng, và thậm chí có thể rơi vào tình trạng thua lỗ theo lý thuyết đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận.
Ngược lại, hạn chế tăng trưởng tín dụng hoặc thậm chí là thu hẹp quy mô cấp tín dụng có thể không chỉ mất đi cơ hội tìm kiếm thu nhập từ những khách hàng có những dự án đầu tư khả thi, mà còn có thể đẩy NHTM rơi vào tình trạng dư thừa vốn đã hình thành từ nguồn vốn tiền gửi của khách hàng. Như vậy, các NHTM cần có cơ sở vững chắc để lựa chọn chính sách tăng trưởng tín dụng phù hợp, theo đó nhiều nghiên cứu lý thuyết lẫn thực tiễn đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng cho vay của các NHTM rất đa dạng và phức tạp, đó có thể là những yếu tố vi mô thuộc về NHTM nhưng cũng có thể là những yếu tố vĩ mô. Qua lược khảo các cơ sở lý thuyết khác nhau có thể giải thích cho tăng trưởng cho vay của các NHTM, đề tài đã đúc kết được các yếu tố ảnh hưởng như sau: Thứ nhất, Quy mô NHTM Theo lý thuyết lợi thế kinh tế vì quy mô (economies of scale theory), quy mô NHTM càng lớn thì chi phí trong dài hạn giảm, do đó quy mô NHTM càng lớn sẽ càng tạo lợi thế cho NHTM mở rộng tăng trưởng cho vay; không những thế, quy mô NHTM có ảnh hưởng cùng chiều đến tăng trưởng cho vay bởi vì NHTM với quy mô lớn thường tạo uy tín, vị thế tốt hơn trong ngành và thường có đội ngũ nhân sự nhiều kinh nghiệm, nghiệp vụ chuyên môn cao, quy trình cho vay hoàn thiện hơn, hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch rộng khắp, do đó các NHTM có quy mô lớn sẽ dễ dàng đa dạng hóa khách hàng, tiếp cận các khách hàng có nhu cầu vốn cao hơn, là điều kiện cần thiết và thuận lợi cho NHTM mở rộng chính sách tăng trưởng cho vay. 10 Ngược lại, lý thuyết bất lợi kinh tế vì quy mô (diseconomies of scale theory) lại cho rằng quy mô NHTM chỉ phát huy trong một giới hạn nhất định nào đó và nếu vượt quá ngưỡng này thì việc tăng quy mô không còn đem lại lợi thế nữa, khi đó chi phí bình quân trong dài hạn có xu hướng gia tăng, và do đó quy mô NHTM càng lớn có thể cản trở quyết định mở rộng chính sách tăng trưởng cho vay.
Hay một lập luận khác cũng ủng hộ lý thuyết này là các NHTM lớn thường khó chấp nhận rủi ro hơn các NHTM nhỏ, dẫn đến cơ hội tăng trưởng cho vay của NHTM nhỏ cao hơn NHTM lớn. Hay theo lý thuyết quá lớn để sụp đổ (The too big to fail theory) cũng cho rằng nếu NHTM mở rộng tăng trưởng cho vay quá mức có thể dẫn đến thất bại cho bản thân NHTM, và theo đó, các NHTM có quy mô quá lớn sẽ thận trọng hơn trong cho vay, thẩm định cho vay chặt chẽ và điều này có thể làm giới hạn tăng trưởng cho vay. Thứ ai, Tă trưở uy động vốn Quy mô huy động vốn thể hiện lượng giá trị vốn huy động của NHTM từ các chủ thể trong nền kinh tế, là thước đo khả năng thu hút vốn của NHTM và là cơ sở để NHTM thực hiện cung ứng vốn cho các chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế theo chức năng trung gian tài chính của NHTM.