Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Khái niệm tín dụng Theo Bùi Diệu Anh (2020), tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Tín dụng bắt nguồn từ chữ Credit – Creditum được hiểu đơn giản là một “quan hệ sử dụng sự tín nhiệm”. Khái niệm tín dụng có thể có nhiều khái niệm khác nhau dưới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau.
Trong đó có quan hệ tín dụng ngân hàng và nó được nhìn nhận như là một chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng thương mại. Theo Hồ Diệu (2001), tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tín dụng ngân hàng có thể căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân biệt thành nhiều loại, phục vụ cho các mục đích quản trị hoạt động tín dụng như: Phân loại theo mục đích sử dụng: tín dụng cho sản xuất kinh doanh, tín dụng tiêu dùng, tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác.
Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn. Phân loại theo phương thức tổ chức cấp tín dụng: tín dụng trực tiếp, tín dụng gián tiếp. Phân loại theo tính chất đảm bảo/ mức độ tín nhiệm của người vay: tín dụng có đảm bảo, tín dụng không có đảm bảo. Phân loại theo hình thức cấp tín dụng: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán, cho thuê tài chính.
Vai trò của tín dụng Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Thông qua các hình thức như nhận ủy thác đầu tư, mở và thanh toán thư tín dụng, bảo lãnh hàng hóa xuất nhập khẩu, chuyển tiền nhanh đi các nơi,… tín dụng ngân hàng đã trực tiếp tham gia trong quan hệ thanh toán quốc tế, các hoạt động sản xuất, 4 xuất nhập khẩu, đầu tư… Ngoài ra, ngân hàng nhận các nguồn tài trợ từ các tổ chức tín dụng quốc tế đã mang lại những kết quả to lớn về kinh tế xã hội đồng thời tăng cường mối quan hệ giữa nước ta với các nước trên thế giới. Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, là người trung gian điều hòa quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Sản xuất và lưu thông hàng hóa ra đời và mở rộng đã kéo theo sự vận động vốn và là nền tảng tạo nên những tổ chức kinh doanh tiền tệ đầu tiên mang những đặc trung của ngân hàng.
Tại một thời điểm tất yếu trong nền kinh tế sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là người thừa vốn cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinh doanh. Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất. Hoạt động tín dụng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội trở thành những phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng nguồn vật tư, lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng.
Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanh nghiệp, giúp thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hoạch toán kinh tế. Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức. Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi.
Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải 5 tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn. để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp. Để quản lí đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán kinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn để nó được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanh nghiệp. Điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn quá trình hạch toán của đơn vị mình.
Rủi ro tín dụng và các tác động của rủi ro đến hoạt động ngân hàng 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán,… của ngân hàng và kể cả ngân hàng mua các loại trái phiếu của doanh nghiệp (Bùi Diệu Anh, 2020) Theo ủy ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BSBS), rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc là bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. Theo định nghĩa này thì rủi ro tín dụng không chỉ có trong hoạt động cấp tín dụng, mà hiểu rộng hơn có thể xem rủi ro tín dụng là loại rủi ro đối tác.
Không chỉ tín dụng ngân hàng, tất cả các giao dịch tín dụng nói chung đều dựa trên cơ sở của lòng tin (credit). Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và/ hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ. Trong hai yếu tố đó thiện chí trả nơ là một yếu tố vô hình (không thể cân đo đong đếm được) do vậy rủi ro tín dụng là yếu tố xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng, ngân hàng không thể triệt tiêu, loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng. Mặt khác trong quá trình khách hàng sử dụng tín dụng, có rất nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng, làm cho khả năng trả nợ thay đổi, vì vậy độ rủi ro tiềm ẩn trong quan hệ tín dụng khá cao, các ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế nó.
Các loại rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng 6 Rủi ro có thể phát sinh từ bất kỳ giao dịch hoặc hoạt động kinh doanh nào có chứa đựng yếu tố không chắc chắn. Trong khi mọi giao dịch/ hoạt động của ngân hàng đều tiềm ẩn một mức độ nhất định của yếu tố không chắc chắn. Do vậy, tất cả các giao dịch/ hoạt động mà ngân hàng thực hiện đều góp phần hình thành nên rủi ro tổng thể của ngân hàng. Cơ cấu của rủi ro tín dụng thường được chia làm hai phần là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro giao dịch liên quan đến sự hoàn trả của từng giao dịch cho vay cá biệt, còn rủi ro danh mục là rủi ro gắn liền với một danh mục cho vay đang hiện hữu của ngân hàng thương mại. Đo lường rủi ro tín dụng Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, hoặc không đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Có nhiều tiêu chí phản ánh RRTD của NHTM: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng vốn chủ sở hữu - Nợ có vấn đề, cần cảnh báo sớm Trong đề tài này, RRTD được đo lường thông qua chất lượng thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ của khách hàng. Theo thông tư 09/2014/TT-NHNN thì các khoản vay của các NHTM sẽ được chia thành 05 nhóm: - Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: + Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; + Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá và là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1.
- Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: + Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; + Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; 7 + Nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn (nhóm 2) ở một số trường hợp.