CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU * Ly do chon dé tai * Muc tiéu nghién ctru * Pham vi, déi tượng nghiên cứu ° _ Phương pháp nghiên cứu * Dong gop cua đề tài * Bécuc cua nghién ctu ~ CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VẺ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Nội dung chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng của NHTM và RRTD phát sinh trong quá trình cho vay khách hàng. Phần tiếp theo, luận văn lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đề từ đó xác định các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến RRTD của các NHTMCP Việt Nam. — CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ tiễn hành trình bày những phương pháp nghiên cứu được dùng trong luận văn. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Bên cạnh đó, dữ liệu nghiên cứu và các biến trong mô hình nghiên cứu sẽ được giới thiệu trong nội dung chương 3. — CHƯƠNG 4: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trước khi trình bày kết quả nghiên cứu và các kiêm định liên quan để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp, luận văn khái quát thực trạng hoạt động cho vay và RRTD của các NHTM Việt Nam nói chung và của Lienvietpostbank — chi nhánh Bến Tre nói riêng trong giai đoạn 2014 — 2018 và phân tích những nhân tổ ảnh hưởng đến RRTD cua Lienvietpostbank — chỉ nhánh Bến Tre. Phần cuối cùng là thảo luận về kết quả của mô hình hồi quy. — CHƯƠNG 5: KÉT LUẬN VÀ KHUYÉN NGHỊ Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu Nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp để kiểm soát, hạn chế và xử lý RRTD tại Lienvietpostbank — chỉ nhánh Bến Tre.
CHUONG 2: CO SO LY THUYET VE RUI RO TIN DUNG VÀ LƯỢC KHAO CAC NGHIEN CUU CO LIEN QUAN 2. Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng 2.1 Rủi ro tín dụng 2. Khái niệm Theo Rose (2002), là khả năng mà ngân hàng sẽ mất một phần hoặc toàn bộ khoản vay từ những sự kiện đe dọa khả năng thanh toán của khách hàng. Ngoài ra, trong nghiên cứu của nhóm tac gia Timothy va MacDonald (2015) thi RRTD là sự thay đôi tiềm ân của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.
Theo Ủy ban giám sát Basel định nghĩa RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận. Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision, 2010). Rủi ro tín dụng là thuật ngữ thường được sử dụng trong hoạt động tín dụng cũng như cho vay của ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính. Đó là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán.
Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng. RRTD là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn that về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (Nguyễn Thị Kim Nhung, Phạm Thị Thu Hiền và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, 2017). Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì RRTD trong hoạt động ngân hàng là tôn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết (Ngân hàng nhà nước, 2013). Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN liên quan đến việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tôn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Như vậy, dù cách thể hiện khác nhau nhưng các khái nệm về rủi ro tín dụng được đưa ra đều hội tụ chung ở một điểm là rủi ro tín dụng chính là tổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải từ sự không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của khách hàng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tin dụng — Nhóm nguyên nhân từ môi trường: Cũng như hoạt động của các chủ thể kinh tế khác, hoạt động tín dụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tổ khách quan từ môi trường kinh tế, môi trường chính trị, đặc điểm văn hóa — xã hội, môi trường pháp lý và các tác động chung của khu vực và địa phương. — Nhóm nguyên nhân từ phía ngân hang: * Khẩu vị rủi ro của mỗi ngân hàng phản ánh thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro ở giới hạn/ mức độ nhất định. Trong giới hạn đó, ngân hàng có khả năng và sẵn sàng để hứng chịu, khắc phục và vượt qua các rủi ro.
Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến RRTD. Thêm vào đó, việc mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng. Cùng với sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là nguy cơ rất cao xảy ra RRTD. * Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệ cho vay còn sơ hở đề khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngân hàng.
* Do cán bộ Ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đồng thời cán bộ ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng. * Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay. * Cán bộ Ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn né nang trong quan hệ khách hàng.
* Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuận cao hơn những khoản vay lành mạnh. * Do áp lực cạnh tranh với các ngân hàng khác. * Do tinh trang tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ NH. — Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng: * Nhiều khoản vay của khách hàng với mục đích đầu tư vào các danh mục đầu tư nhạy cảm với những biến động của thị trường; khách hàng cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng.
* Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử đụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho ngân hàng. * Do trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tô chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế. * Doanh nghiệp vay ngắn han dé dau tư vào tài sản lưu động và cố định. *® Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiễn quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm.
dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn đề trả nợ cho ngân hàng. * Do bản thân doanh nghiệp có chủ ý lừa gạt ngân hàng, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, không đủ năng lực pháp nhân. — Những nguyên nhân khác dẫn đến RRTD cho NHTM: * Một số công ty, tổng công ty đứng ra bảo lãnh hoặc uỷ quyền cho các chỉ nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của NHTM để tránh sự kiểm tra giám sát của ngân hàng cho vay chính. Khi đơn vị vay vốn mắt khả năng thanh toán, bên bảo lãnh và ủy quyền không chịu thực hiện việc trả nợ thay.
* Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, đo thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định. khiến cho cả ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp thời. * Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng. * Do sự biến động về chính trị - xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho NH.
* Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ NH. * Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như NH. * Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau. * Chính sách Nhà nước chậm thay đôi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước.
Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng (U Nợ quá hạn Là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ 10 khoản vay cho người cho vay. Tùy theo thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có kha nang mat vốn.