Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN NGÂN HÀNG ĐỂ VAY VỐN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN Chương 2: THỰC TRẠNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SIÊM RIỆP, CAMPUCHIA Chương 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN NGÂN HÀNG ĐỂ VAY VỐN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SIÊM RIỆP, CAMPUCHIA Chương 4: GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SIÊM RIỆP, CAMPUCHIA Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN NGÂN HÀNG ĐỂ VAY VỐN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM 1. Khái niệm về cho vay cá nhân 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Một quan hệ tín dụng ngân hàng phải chứa đựng đủ ba nội dung sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng - Sự chuyển nhượng này có thời hạn - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. Nếu thiếu một trong ba nội dung trên thì không còn là quan hệ tín dụng hay quan hệ cho vay. Khái niệm tín dụng cá nhân Tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc sản xuất kinh doanh. Phân loại cho vay cá nhân Trong nền kinh tế thị trường hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình tín dụng khác nhau.Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng.
Theo đó tín dụng cá nhân có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau: - Dựa vào mức độ tín nhiệm của của khách hàng: cho vay không có bảo đảm và cho vay có bảo đảm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 + Cho vay không có bảo đảm: là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. + Cho vay có bảo đảm: là loại hình cho vay trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. - Dựa vào sản phẩm/mục đích vay vốn: + Cho vay bất động sản: phục vụ nhu cầu mua đất/nhà/nhà dự án (thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay), xây dựng, sửa chữa nhà.
+ Cho vay mua xe máy, ô tô (thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay). + Cho vay bổ sung vốn kinh doanh cá thể. + Cho vay tiêu dùng, thấu chi tài khoản cá nhân. + Cho vay du học.
+ Cho vay cầm cố giấy tờ có giá. Tầm quan trọng của cho vay cá nhân 1. Đối với nền kinh tế xã hội - Góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và phát triển xã hội: Ở góc độ vĩ mô, tầm quan trọng của tín dụng cá nhân là không nhỏ đối với tác động của nó lên nền kinh tế. Sự tăng trưởng kinh tế có thể được phản ánh qua thu nhập quốc dân bình quân đầu người hay mức sống của người dân trong xã hội.
Nhờ có tín dụng cá nhân mà người dân có thể ngày càng hoàn thiện cuộc sống và thực hiện tái sản xuất mở rộng, nghĩa là có vốn để đầu tư máy móc thiết bị, dây chuyền, đổi mới công nghệ, hình thành và mở rộng quy mô sản xuất… Tín dụng cá nhân còn góp phần kích thích chi tiêu của người dân, làm tăng chất lượng cuộc sống, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu của người dân. Thông qua đó, cũng thúc đẩy các nhà cung cấp phải tăng cường sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. - Đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của nền kinh tế: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Để tiến hành sản xuất, tái sản xuất, các gia đình, cá nhân kinh doanh phải có đủ lượng vốn lưu động để phục vụ cho nhu cầu của mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Song do sự khác nhau về mặt thời gian của dòng tiền ra và dòng tiền vào nên dễ dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn lưu động tạm thời.
Đề bù đắp phần vốn còn thiếu kịp thời, có rất nhiều nguồn huy động khác nhau, nhưng trong đó tín dụng cá nhân là một trong những nguồn vốn linh hoạt nhất. Thông qua các sản phẩm cho vay vốn lưu động phù hợp với tình hình kinh doanh của các cá nhân, các NHTM có thể cung cấp khoản vay cho các cá nhân nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh, tái sản xuất luôn được diễn ra liên tục. - Tạo điều kiện phát triển cho thành phần kinh tế cá thể: Nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh tế tạo nên sự cạnh tranh rất mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế với nhau. Trong đó, thành phần kinh tế cá thể gặp không ít khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển do các hạn chế về quy mô, vốn tự có… Từ đó làm giảm năng lực cạnh tranh, khả năng phát triển, mở rộng của thành phần kinh tế này.
Nhờ có nguồn vốn từ tín dụng cá nhân mà giúp cho thành phần kinh tế cá thể có đủ vốn, năng lực tài chính để duy trì, mở rộng, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh, và góp phần vào sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế. Bên cạnh đó, nhờ có đủ vốn kinh doanh, các thành phần kinh tế cá thể cũng góp phần tạo công ăn việc làm, tăng tính đa dạng, hiệu quả cho nền kinh tế, tăng tính cạnh tranh cho các thành phần kinh tế trong thị trường. Đối với ngân hàng - Đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh, thƣơng hiệu cho ngân hàng: Do có đối tượng khách hàng rộng lớn nên tín dụng cá nhân sẽ góp phần làm cho thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp. Thông qua tín dụng cá nhân, ngân hàng có thể cung cấp thêm các sản phẩm, dịch vụ bán chéo khác như tiền gửi tiết kiệm, thanh toán, chi trả lương qua tài khoản, phát hành, thanh toán qua thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử… Những sản phẩm, dịch vụ cá nhân đồng bộ, tiện ích của ngân hàng sẽ làm nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng trong việc duy trì, thu hút thêm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lượng khách hàng cũng như tạo dựng thương hiệu, uy tín của ngân hàng trên thị trường.
- Góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng: Nếu ngân hàng chỉ tập trung vào tín dụng cho các doanh nghiệp thì khi nền kinh tế trải qua giai đoạn suy thoái, khó khăn sẽ dễ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của nhóm khách hàng doanh nghiệp, gây rủi ro tín dụng, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chính vì vậy, tín dụng cá nhân cũng góp phần giúp ngân hàng phân tán rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Do số lượng khách hàng cá nhân vay lớn, khoản vay của mỗi cá nhân với giá trị nhỏ, nên việc một vài khách hàng cá nhân không trả được nợ vay không có tác động quá lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bên cạnh đó, việc quản lý cũng như xử lý nợ quá hạn phát sinh của khách hàng cá nhân cũng đơn giản hơn so với khách hàng doanh nghiệp.
Đối với khách hàng cá nhân Cuộc sống con người luôn tồn tại nhu cầu vật chất và tinh thần, những nhu cầu đó ngày càng đa dạng và tăng cao từ hàng hóa thiết yếu đến hàng hóa xa xỉ cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Nhưng việc thỏa mãn nhu cầu đó lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán hiện tại. Tín dụng cá nhân góp phần giúp khách hàng giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu của cá nhân với khả năng thanh toán hiện tại của khách hàng.Thay vì việc chờ đợi tích lũy đủ tiền để phục vụ cho nhu cầu cá nhân, khách hàng có thể xem xét lựa chọn sản phẩm tín dụng cá nhân phù hợp với nhu cầu, khả năng trả nợ của mình trong tương lai. Đối với những nhu cầu bức thiết của cá nhân như mua đất, nhà, phương tiện đi lại, học hành … tín dụng cá nhân là một trong những nguồn vốn linh hoạt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của cá nhân với thủ tục đơn giản, chi phí hợp lý.
Ngoài ra, tín dụng cá nhân còn đáp ứng nhu cầu cho khách hàng cá nhân muốn duy trì, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư máy móc, dây chuyền thiết bị, cải tiến công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh. Với hồ sơ, thủ tục đơn giản hơn so với tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân phục vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 kịp thời nhu cầu về vốn cho đối tượng cá nhân sản xuất, kinh doanh, phù hợp với đặc tính và tập quán kinh doanh của đối tượng này. Những vấn đề về hành vilựa chọn Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả xin giới thiệu mô hình Engel- Kollat-Blackwell (EKB) về quyết định lựa chọn của hành vi tiêu dùng.Mô hình Engel- Kollat-Blackwell (EKB) nhấn mạnh đến quá trình đưa ra quyết định lựa chọn của hành vi tiêu dùng. Theo mô hình này, quá trình đưa ra quyết định bao gồm 5 bước: - Đầu vào (Input) - Xử lý thông tin (Information processing) - Quá trình quyết định (Decision process) - Các biến ảnh hưởng đến quyết định (Decisional variables) - Những nhân tố tác động bên ngoài (External factors) Hình 1.1: Quá trình đưa ra quyết định lựa chọn theo mô hình EKB LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Bƣớc 1: Đầu vào Giai đoạn đầu vào nói chung là giai đoạn thu thập dữ liệu của quá trình ra quyết định của người tiêu dùng.